CÁCH XEM CUNG PHU THÊ???

Hỏi đáp, luận giải, tư vấn theo tử vi
Nội qui chuyên mục
Chuyên mục luận giải cần có thái độ ứng xử đúng mực, không được spam. Các bài viết có nội dung không liên quan sẽ bị xóa bỏ. Thành viên vi phạm sẽ bị treo nick.
Hình đại diện của thành viên
tthanh
Ngũ đẳng
Ngũ đẳng
Bài viết: 1260
Tham gia: 04:15, 02/02/10

CÁCH XEM CUNG PHU THÊ???

Gửi bàigửi bởi tthanh » 16:10, 05/03/10

Chào tất cả các anh chị!

Em nghe nói khi xem cung Phu, Thê của 2 người có duyên số là vợ chồng thì sẽ có nhiều điểm tương đồng? Không biết điểm tương đồng đó là gì vậy? Có phải chính tinh ở cung phu của người vợ sẽ giống cung mệnh của người chồng không? Hay là hay vợ chồng nhiều sao giống nhau? Xin được chỉ giáo thêm???

Hình đại diện của thành viên
smallperson87
Tam đẳng
Tam đẳng
Bài viết: 640
Tham gia: 20:57, 01/03/10
Đến từ: Trên trời rơi xuống!!

TL: CÁCH XEM CUNG PHU THÊ???

Gửi bàigửi bởi smallperson87 » 09:37, 09/03/10

hic, em cũng đang muốn hỏi về vấn đề này

Hình đại diện của thành viên
wintertulip
Nhị đẳng
Nhị đẳng
Bài viết: 292
Tham gia: 13:28, 04/03/10

TL: CÁCH XEM CUNG PHU THÊ???

Gửi bàigửi bởi wintertulip » 09:56, 09/03/10

chính tinh trùng thì co hội cao vì tánh tình của phu/thê hợp với bảnh mệnh ... tuy nhiên tính tới phụ tinh thì cũng có thể, càng nhiều phụ tinh ... trùng với nhau thì cơ hội càng cao ... hihi cái này hồi đó wintertulip đọc được ở đâu đó quên rồi, nhưng đại khái là vậy .

Hình đại diện của thành viên
tthanh
Ngũ đẳng
Ngũ đẳng
Bài viết: 1260
Tham gia: 04:15, 02/02/10

TL: CÁCH XEM CUNG PHU THÊ???

Gửi bàigửi bởi tthanh » 13:51, 09/03/10

wintertulip: Theo tthanh thì tính luôn cả chính tinh lẫn phụ tinh :D ; nhưng chẳng biết xác xuất trúng bao nhiêu :-/

Hình đại diện của thành viên
heomoi_25
Ngũ đẳng
Ngũ đẳng
Bài viết: 1060
Tham gia: 02:02, 16/01/10

TL: CÁCH XEM CUNG PHU THÊ???

Gửi bàigửi bởi heomoi_25 » 14:00, 09/03/10

Có lẽ theo heo nghĩ là trên 50%

Hình đại diện của thành viên
tthanh
Ngũ đẳng
Ngũ đẳng
Bài viết: 1260
Tham gia: 04:15, 02/02/10

TL: CÁCH XEM CUNG PHU THÊ???

Gửi bàigửi bởi tthanh » 14:03, 09/03/10

Hì hì...không biết tuổi Mậu Thìn hợp với chồng tuổi gì nhỉ? :P

Đăng Nhập
Nhị đẳng
Nhị đẳng
Bài viết: 271
Tham gia: 15:05, 03/02/10

AI BIẾT TÁC GIẢ THÌ NHẮC GIÙM

Gửi bàigửi bởi Đăng Nhập » 14:14, 09/03/10

Hạnh Phúc Vợ Chồng Qua Cung Phối (Phu Thê)

I- Có nên so tuổi không ?

Trong suốt thời gian học hỏi về Tử-Vi, mỗi lần ai nhờ tôi coi về hôn nhân cũng hỏi tôi vấn đề so đôi tuổi có đúng không ? Tôi xin trả lời ngay là chỉ tương đối đúng, nghĩa là phải tùy thuộc vào lá số của cá nhân, vì vậy không nên câu nệ hoặc quan trọng hóa việc so đôi tuổi quá.

Nếu lá số của mình có cung Phối (tức cung Phu Quân, hoặc Thê Thiếp tùy theo nam hay nữ) tốt thì gần như chắc chắn mình sẽ gặp được người vợ hoặc chồng tốt, dù tuổi hai bên có Ngũ Hành xung nhau chăng nữa, nhưng thực ra hai vợ chồng hay gây gỗ nhau về những điều lặt vặt thì không hại gì cho hạnh phúc gia đình. Tuy nhiên theo kinh nghiệm riêng, thì thấy thường thường những người có cung Phối "ngon lành" thì ngẫu nhiên không lựa mà vẫn gặp được ý trung nhân có mạng tương sinh.

Nhưng có điều lạ là tôi đã được biết nhiều cặp có cung Phối tốt, thế mà cặp nào có Ngũ Hành hơi xung nhau (tôi nói hơi xung, thí dụ như Sơn Đầu Hỏa, Hỏa là lửa trên núi và Giản Hạ Thủy là nước dưới khe, tuy là Hỏa-Thủy tương khắc nhau, nhưng khắc gọi là vậy thôi, vì nước trong khe làm sao dập tắt được lửa trên núi) thì lại có hạnh phúc đậm đà hơn cặp có Ngũ Hành tương sinh.

Phải chăng mặt sông có sóng gợn lăn tăn vẫn "thơ mộng" hơn mặt biển phẳng lặng chăng ? Kể ra cũng không có gì khác thường vì trên thực tế nếu cặp vợ chồng nào không bao giờ gây gỗ với nhau, hoặc không bao giờ có gì ngang trái xảy ra hạnh phúc lứa đôi thì đương nhiên là tốt thật, nhưng chưa chắc họ cảm thấy được những gì độc đáo hơn cặp vợ chồng thỉnh thoảng hờn giận nhau, rồi lại làm lành với nhau.

Tuy vậy đó là nói về phương diện tình cảm và tâm lý, chứ thật ra cặp vợ chồng có Ngũ Hành của mạng tương sinh vẫn thành công hơn về phương diện sự nghiệp.

Trong trường hợp cung Phối xấu thì thật kẹt, vì khó lòng lựa được người tương sinh với mình về Ngũ Hành, mà dù có lựa được cũng kẻ Bắc người Nam, chia ly xa cách. Tôi có một người cô ruột khi sắp lấy chồng cũng đã so đôi tuổi kỹ lưỡng lắm, mà chỉ trong vòng năm năm hai vợ chồng kẻ Âm, người Dương, cũng chỉ vì cung Phối quá xấu (!?)

II- Tìm hiểu về cung " Phối "

Trong mục này tôi chỉ nêu lên những điểm mà các sách Tử-Vi ít khi đề cập tới, hoặc có nói tới, nhưng theo một cách khác. Vì vậy các bạn đừng coi những điều dưới đây như những công thức để giải đoán về cung Phối mà chỉ nên coi là những điều bổ túc mà thôi.

1- Truyền cung là gì ?

Trong bao nhiêu năm coi số Tử-Vi, tôi chỉ gặp có hai hay ba trường hợp "truyền cung". Truyền cung khác với truyền tinh , vì chỉ để ý tới cung chư không quan tâm đến các sao.

Thí dụ người chồng tuổi Hợi và người vợ tuổi Sửu (không cần xét tới hàng Can của tuổi), nếu cung Mệnh của chồng đóng tại cung Sửu (tuổi vợ) và cung Thê của người đó lại ở Hợi (tuổi chồng) còn lá số người vợ cung Mệnh đóng tại Hợi hoặc cung Phu ở Sửu (khó có trường hợp hai cung đối với lá số thứ nhì, nếu lá số số thứ nhất trùng hai cung rồi) thì gọi là truyền cung.

Cặp vợ chồng nào truyền cung như vậy thì coi như đã được một yếu tố tương hợp đặc biệt rồi, chưa cần xét đến các sao và Ngũ Hành. Nói là đặc biệt không phải hoàn toàn chỉ về phú quý mà thực ra chỉ về hạnh phúc đầm ầm nhiều hơn, còn nếu thêm được các sao quyền quý của hai cung Phối thì được cả hai khía cạnh. Dù sao chăng nữa, hạnh phúc vợ chồng tùy thuộc rất nhiều vào sự khắng khít, thương yêu nhau hơn là vào tiền bạc, công danh, miễn là cuôc sống không đến nỗi nghèo khổ quá thôi. Ngoại trừ trường hợp có những cặp vợ chồng chỉ nghĩ đến tiền thì đó là chuyện ngoại lệ, không cần bàn tới.

2- Truyền tinh

Vần đề truyền tinh giữa hai lá số vợ chồng tương tự như sự truyền tinh giữa cha mẹ và con cái. Nay tôi chỉ xin nhắc lại cần chú ý đến các sao tốt truyền tinh là hay (Thí dụ như Tử-Phủ-Vũ-Tướng, Cơ-Nguyệt-Đồng-Lương, Quang-Quý,Long-Phượng, Khoa-Quyền-Lộc, Thai-Tọa,Tả-Hữu ... ) chứ nếu toàn các hung tinh, sát tinh, bại tinh truyền tinh thì thật là đại bất hạnh, vì hai vợ chồng cứ hại nhau hoài, hoặc chia ly mau lẹ !

Cũng có người nói rằng truyền tình như vậy thì hai vợ chồng vẫn thương mến nhau vì "đồng lai tương tập" nhưng đều là lưu manh một đám và hạnh phúc không bền. Kể ra chỉ đúng về khía cạnh không bền, chứ còn vấn đề "lưu manh" thì không vững, vì nếu cả hai người đều có cung Mệnh đàng hoàng thì sao, đâu có phải cứ cung Phối xấu thì Mệnh xấu đâu. Điểm này để các bạn nghiên cứu Tử-Vi chiêm nghiệm.

Trong trường hợp lá số của chồng có những sao xấu ở cung Mệnh của vợ truyền qua cung Thê và cung Phu của vợ lại có các sao tốt của chồng thì phải hiểu là người vợ rất may mắn được ông chồng đàng hoàng, tài giỏi, quyền quý trong khi mình chỉ là "của nợ" đối với chồng.

Dù cho cung Mệnh của chồng có thêm những sao "lưu manh" chăng nữa, thì người đó cũng chỉ bất lương với những người khác, còn đối với vợ lại rất đàng hoàng. Còn người vợ, dù cho Mệnh Thân trong trường hợp này có tốt cũng chỉ cư xử tử tế với bà con, anh em, họ hàng, chứ riêng đối với chồng thì lại thủ đoạn hoặc chỉ ăn hại mà thôi. Tôi đã có dịp gặp nhiều cặp vợ chồng có số như vậy và chiêm nghiệm thấy rất đúng. Vậy các bạn nào lựa vợ hoặc chồng hãy thử dựa theo tiêu chuẩn này, xem có ứng nghiệm hay không, vẫn biết rằng đã có số thì cũng chẳng lựa nổi.

Ngoài ra, có nhiều người thắc mắc không biết một đôi trai gái yêu nhau, tính kết hôn với nhau mà có số truyền tinh (sao tốt) có lấy nhau không ? Về điểm này tôi đã nghiệm thấy chỉ đúng 70 %, vỉ đâu có phải chỉ có người con gái (hoặc con trai) liên hệ đó mới có số truyền tinh. Đúng ra còn có rất nhiều người khác dù không sinh một ngày, giờ, năm, tháng mà vẫn truyền tinh chặt chẽ hơn nữa. Tuy vậy, khi mình đã yêu đúng người truyền tinh rồi thì họa hoằn lắm mới gặp được một người khác truyền tinh hơn, cho nên những đôi lứa nào đang cố gắng đi tới hôn nhân mà truyền tinh với nhau cũng không nên lo ngại lắm.

Lại cũng có người hỏi nếu không truyền tinh với nhau có phải là vợ chồng không, hoặc có cặp vợ chồng nào ăn ở với nhau rồi mà không truyền tinh hay không ? Tôi nghiệm thấy rằng khi chưa kết hôn với nhau mà không có số truyền tinh, thì gần như chắc chắn không đi tới hôn nhân được. Nhưng trái lại, tôi cũng đã gặp khá nhiều cặp vợ chồng không truyền tinh với nhau, nhưng trong trường hợp này, vợ chồng đối với nhau như người dưng nước lã, mỗi người một đường hướng, ít khi gần gũi nhau và nhất là lúc chết khó lòng gặp mặt nhau, hoặc giả cũng có khi thương yêu nhau nhưng rồi vì hoàn cảnh phải xa nhau, hay li dị nhau.

Trước khi chấm dứt mục "Truyền tinh" này tôi còn cần nêu ra một điểm nữa. Thường thường, các vị coi Tử-vi chê cung Phối có Thái Tuế-Đà La-Kình Dương (còn có vị chê cả Thai Phụ-Phong Cáo ở cung Phối nữa), cho rằng cung Phối như thế nhất là có Thái Tuế, vợ chồng dễ xa nhau, li dị nhau hoặc người bạn đời của mình chết sớm.

Điều này đúng, nhưng nếu may ra cung Phối của vợ hoặc chồng mình có sao giống như thế (cũng là một hình thức truyền tinh) thì có thể tránh được hình khắc, vì đã có sự quân bình, coi như "cán cân cân lực lượng" thăng bằng.

Nhưng ít ra phải có nhiều trắc trở éo le trước khi đi tới hôn nhân mới tốt về sau (thí dụ như cưới chạy tang, bệnh hoạn, tai nạn, bị ngăn trở, quậy phá ... ) những tay "anh chị" gặp nhau thường hay thử tài nhau trước khi liên kết với nhau là thế. Chính cụ Song An Đỗ Văn Lưu, tác giả cuốn Tử-Vi Chỉ Nam đã cho tôi biết điểm này khi cụ còn sinh tiền.

3- Tương quan giữa Ngũ Hành các sao và vị trí của cung Phối với Ngũ Hành của bản Mệnh

Thường thường các bạn coi Tử-Vi ít khi chú trọng tới điểm này và chỉ quan tâm đến các vấn đề Miếu, Vượng, Đắc Địa hoặc Hãm địa của các sao thuộc cung Phối cùng ý nghĩa các sao đó. Như thế thiếu hẳn một yếu tố quan trọng về sự tương hợp, một yếu tố cần thiết cho hạnh phúc vợ chồng. Phàm các chính tinh (không nên xét đến các trung tinh và bàng tinh để cho khỏi rắc rối quá) ở cung Phối, nếu:
  • Sinh bản Mệnh thì thường được vợ hoặc chồng chiều chuộng thương yêu như thế tức là mình giữ vai trò bị động.
  • Được bản Mệnh sinh thì mình giữ vai trò chủ động, lo toan mọi bề cho người bạn đời của mình.
  • Tương hòa với bản Mệnh thì hai bên lo cho nhau một cách bình thường, theo bổn phận hơn là vì thương yêu nồng nàn.
Theo quan điểm riêng của tôi, nếu bản Mệnh là Nam thì sinh xuất. Ví dụ : Mạng Mộc sinh sao ở cung Phối thuộc (Hỏa) hay hơn hơn sinh nhập (trường hợp sao cung Phối sinh Mệnh) vì đàn ông mà để đàn bà lo toan cho mình đủ thứ thì sao đáng gọi là nam nhi. Còn bản Mệnh là Nữ thì sinh nhập hay hơn, vì đàn bà nhờ chồng nhiều mới sung sướng, trừ phi người đó muốn điều khiển chồng lại là chuyện khác.

Trong trường hợp gặp sao cung Phối khắc với bản Mệnh thì thật là đáng tiếc, dù sao tốt.

Thí dụ cung Phối có có Tử-Phủ đồng cung tại Dần hoặc Thân là các sao tốt hết chỗ chê, người hôn phối vừa đứng đắn, đạo đức, vừa quyền quý, cao sang, mà lại khắc với bản Mệnh thì người bạn đời của mình chẳng khác nào chiếc lọ cổ thật đẹp trưng bày mà ngắm thôi.

Thành ra người ngoài nhìn vào ai cũng trầm trồ khen ngợi trong khi chính mình chẳng ưa hoặc người hôn phối không ưa mình. Đấy là chưa kể đến trường hợp bị thêm các sao xung phá khác làm giảm hạnh phúc đi nhiều nữa.

Còn thí dụ như có Vũ-Sát khắc bản Mệnh thì lại khổ hơn nữa, vì người bạn đời của mình vừa cứng cỏi, khô khan, vừa không hợp với mình, như thế còn gì chán bằng.

Nếu xui xẻo có Tham Lang độc thủ khắc bản Mệnh của mình, lại thêm Đào-Riêu-Mộc thì chắc chắn bị xấu nhục với xã hội về người hôn phối đàng điếm.

Còn về tương quan giữa vị trí cung Phối với bản Mệnh, thì chỉ có khác là vị trí thường tượng trưng cho phía gia đình bên vợ, trong khi các chính tinh thường tiêu biểu cho chính người vợ . Về luận đoán cũng tương tự như trên, tôi thấy viết thêm ra nữa chỉ càng làm cho dài dòng vô ích.

Tôi cần lưu ý các bạn là không bao giờ nên áp dụng một cách máy móc những điểm trên, mà còn cần phải dung hòa với các yếu tố khác trước khi đi đến chỗ quyết đoán.

4- Tương quan giữa cung Phối và hai cung Mệnh và Phúc Đức

Tôi có được xem một lá số của một bà có cung Phu rất tốt (nhiều sao quyền quý và Ngũ hành tương sinh với bản Mệnh), nhưng Mệnh của bà ấy lại có Cô-Quả-Đào-Kình-Thiên Không và "Thân" có Vũ-Khúc-Lộc Tồn-Kiếp Sát, lại thêm Không-Kiếp hãm địa chiếu về (nhất là Kiếp hãm địa tại Mệnh tối kị với đàn bà) trong khi cung Phúc cũng xấu, ngoài Mệnh còn có Tử-Tham bị Triệt án ngữ cho nên bà ấy không được hưởng cung Phu và hiện nay vẫn ở góa, sau khi đã có hai chồng quyền quý, một bị chết non, một ly dị.

Bà ta còn cho biết mới đây một ông lớn muốn cưới bà ấy, nhưng vì thấy Tử-vi của mình kẹt như vậy nên bà ta còn e dè ! Xem như thế cũng đủ biết cung Mệnh có ảnh hưởng lớn lao tới cung Phối biết chừng nào. Riêng tôi, tôi vẫn thắc mắc không hiểu tại sao người chồng đầu tiên của bà lại chết non, vì cung Phối không có sao chứng tỏ sự chết non đó. Không có lẽ Mệnh, Thân của bà đó sát chồng mạnh đến thế hay sao ?

5- Ý nghĩa các sao thuộc cung Phối

Hầu hết các sách Tử-vi Tữ-Vi đã xuất bản, đều có ghi ý nghĩa các sao nên tôi thấy không cần phải nêu ra đây. Tôi chỉ xin lưu ý các bạn là ngoài sự tương quan về Ngũ Hành các sao với bản Mệnh như đã nói trên, các bạn cũng cần phải để ý xem nhóm sao thuộc cung Phối có ăn khớp với nhóm sao thuộc cung Mệnh hay không.

Ví dụ như Mệnh có Cơ-Nguyệt-Đồng-Lương thì cung Phối nên có Cự-Nhật hoặc Vũ-Tướng, chứ tối kị có Sát-Phá-Liêm-Tham hoặc ngược lại cũng vậy. Về điểm này, các bạn có thể coi phần tiểu luận của cuốn Tử-vi Đẩu Số Tân Biên do Ông Vân Đằng Thái Thứ Lang biên soạn để áp dụng vào trường hợp này theo kiểu suy luận.

Ngoài ra, tôi cũng cần nói rằng các trung tinh thường phải lệ thuộc vào chính tinh (tọa thủ cũng như xung chiếu).

Tôi xin lấy một ví dụ : Nhiều người sợ sao Đào Hoa tại cung Phối vì sợ người bạn đời của mình lả lướt quá.

Nhưng nếu gặp Tử-Phủ hoặc Liêm-Tướng chẳng hạn thì lại rất hay, vừa đạo đức, xinh đẹp, vừa tình cảm.

Tuy vậy, cũng rất cần Chính tinh tương sinh với bản Mệnh (nhất là sinh xuất) thì tình vợ chồng mới mặn nồng, chứ Chính tinh khắc bản Mệnh thì tâm hồn người bạn đời của mình cũng dễ hướng về người khác, dù chỉ trong tinh thần hoặc cao thượng (vì Tử-Phủ, Liêm-Tướng là các sao đoan trang, đứng đắn).

Nếu chẳng may sao Đào Hoa phùng Tham Lang chẳng hạn, thì dù có sinh bản Mệnh cũng phiền lắm, vì làm sao mình thỏa mãn nổi người bạn đời quá ham mê nhục dục. Còn gặp trường hợp Chính tinh này (ý nói sao Tham Lang trong trường hợp này) khắc với bản Mệnh thì chắc chắn mình mau ... mọc sừng.

Qua những điểm nêu trên, các bạn hẳn tìm thấy rằng việc tìm hiểu cung Phối thật phức tạp, rắc rối, cho nên khi quyết đoán cần phải kết hợp mọi yếu tố để kẻo mắc sai lầm rất nhiều.

Đăng Nhập
Nhị đẳng
Nhị đẳng
Bài viết: 271
Tham gia: 15:05, 03/02/10

CÁCH XEM CUNG PHU THÊ - TÁC GIẢ: PHƯỚC DUYÊN

Gửi bàigửi bởi Đăng Nhập » 14:16, 09/03/10

Kinh nghiệm : Giải đoán cung Phu Thê
Phải xem Mệnh, Thân, Phúc.
Ảnh hưởng Chính tinh, Trung tinh, Sát tinh.
Trường hợp phải lập gia đình trễ mới tốt.
Thân cư Thê là thế nào ?
Lá số sợ vợ.
Về cung Phu Thê, các vị đương số thường rất muốn biết rõ, vì thường thường hạnh phúc đời người có thể không do tiền bạc nhà cửa, công danh, mà do đường vợ chồng con cái. Ôm tiền bạc nhiều, công danh thật lớn, mà đường vợ con, chồng con hỏng thì cũng không đáng gì. Trái lại, làm chức nhỏ, nghèo, thanh cao nhưng sống vui với chồng con, vợ con đề huề thì cũng thú ...


I- Xem Phu Thê phải xét Mệnh, Thân Phúc

Các sự kiện trong cung Phu-Thê mà nhà thuật số có thể cân nhắc thuộc về các phương diện hạnh phúc đời người :
Vợ chồng lấy nhau có dễ dàng hay bị cản trở ?.
Có sự hình khắc, tử biệt sinh ly không?
Có xung khắc nhau không ( những độ xung khắc khác nhau) hay được hòa hợp đến già ?
Có mấy đời vợ chồng ? Đàn ông có mấy vợ không ?
Vợ hay chồng có tốt không ? (Vợ đẹp, ngoan, đứng đắn hay dâm dật, xấu xa, chồng khá giả hay chồng bần tiện ... )
Muốn biết đại cương cung Phu-Thê tốt xấu, phải xem các sao trong cung đó, nhưng trước hết, cũng phải xem cung Mệnh, Thân và Phúc Đức.

Sở dĩ phải xem Mệnh, Thân và Phúc Đức, là bởi vì người có Mệnh, Thân và Phúc Đức tốt, tất cả được hưởng ảnh hưởng tốt và hạnh phúc và cái đó phải ảnh hưởng vào Phu-Thê (đó là chưa kể rằng cung Phu-Thê thuộc nhóm cung Mệnh Thân, và có các cung Phúc Đức, Quan Lộc, Thiên Di chiếu tới)

Nếu cung Phu Thê xấu mà được cung Mệnh, Thân và Phúc Đức tốt, thì cũng giải trừ được nhiều sự xấu (bớt sự xung khắc, bớt hình khắc chia ly).

Nếu Cung Phu Thê tốt, mà cung Mệnh, Thân và Phúc Đức lại xấu, thì những cái tốt của cung Phu-Thê cũng phải giảm đi.

Cũng có trường hợp Mệnh xấu, Phu-Thê xấu, lấy vợ lấy chồng gặp toàn cảnh ngộ tệ hại, thế nhưng sang đến Thân tốt , thì cũng Phu-Thê ấy, mà lại được hưởng tốt (Thân ăn về hậu vận, từ tuổi 30 trở ra; đương số lấy vợ lúc trẻ tuổi, gặp vợ lăng loàn, chịu cảnh xung khắc rồi phải ... ở góa; nhưng sang đến Thân được ảnh hưởng tốt; lại lấy được vợ tốt, hiền hòa, ăn nên làm ra, vợ chồng hòa hợp)

Cần nắm vững Mệnh, Thân và Phúc Đức mới giải đoán được đúng cung Phu-Thê.
Phước Duyên





Đăng Nhập
Nhị đẳng
Nhị đẳng
Bài viết: 271
Tham gia: 15:05, 03/02/10

TL: CÁCH XEM CUNG PHU THÊ???

Gửi bàigửi bởi Đăng Nhập » 14:23, 09/03/10

II-Ảnh hưởng Chính tinh


Quý vị có thể coi các sách Tử-vi, đã soạn sẵn những cách và ý nghĩa khi gặp những Chính tinh miếu hay hãm, rồi lại có những cách trung tinh (nhớ xét đến Ngũ hành của bản Mệnh và Thân với các Chính tinh và trung tinh). Xin tóm tắt sau đây ý nghĩa các cách ở cung Phu-Thê :

* Tử-vi tại Ngọ : Hòa hợp đến già, khá giả
* Tư-Phủ đồng cung : Hòa hợp đến già, khá giả
* Tử-Tướng đồng cung : Cùng cứng cỏi, xích mích. Nhưng khá giả, ăn ở được với nhau.
* Từ-Sát đồng cung : Tiên trở hậu thành và lập gia đình trễ mới tốt.
* Tử-Phá đồng cung :Hình khắc hoặc kém thuận hòa.
* Tử-Tham đồng cung :Thành hôn trễ mới tốt, ghen tuông.
* Liêm Trinh đơn thủ tại Dần Thân: Mấy lần lập gia đình.
* Liêm-Phủ đồng cung : Trễ mới tốt, chung sống tốt, khá giả.
* Liêm-Tướng đồng cung : Bất hòa.
* Liêm-Sát đồng cung : Hình khắc muộn mới tốt.
* Liêm-Phá đồng cung : Bất hòa.
* Liêm-Tham đồng cung : Xung khắc.
* Thiên Đồng tại Mão : Trễ mới tốt.
* Thiên Đồng tại Dậu : Bất hòa.
* Thiên Đồng tại Tý dễ gần, dễ xa.
* Thiên Đồng tại Thìn Tuất : Xung khắc.
* Đồng Lương đồng cung : Đẹp đôi, khá giả, cưới sớm.
* Đồng, Nguyệt tại Tý đồng cung : Đẹp đôi, khá giả, cưới sớm.
* Đồng, Nguyệt tại Ngọ : trễ mới tốt.
* Đồng Cự : Xa nhau một thời rồi mới đoàn tụ.
* Vũ Khúc tại Thìn Tuất : Trễ mới tốt
* Vũ Phủ đồng cung : Có bất hòa, nhưng khá giả đến già.
* Vũ Tường đồng cung : Vợ đảm, chồng sang. Có xích mích, nhưng khá giả đến già
* Vũ Tham đồng cung : Trễ mới tốt.
* Vũ Phá đồng cung : Giỏi, trễ mới tốt
* Vũ Sát đồng cung : Hình khắc, dễ xa nhau.
* Thái Dương sáng : Hòa hợp, khá giả đến già.
* Thái Dương tối : Cưới xin trắc trở , trễ mới tốt.
* Nhật-Cự đồng cung tại Dần : Bất hòa nhưng chung sống đến già.
* Nhật-Cự đồng cung tại Thân : Trễ mới tốt.
* Nhật-Nguyệt đồng cung : Khá giả, nhưng trễ mới tốt.
* Thiên Cơ ở Tỵ, Ngọ, Mùi :Thành hôn sớm, khá giả, ở được với nhau
* Thiên Cơ ở Hợi, Tý, Sửu : Trễ mới tốt.
* Cơ Lương đồng cung : Lấy dễ, khá giả hòa thuận đến già.
* Cơ Cự đồng cung : Người xứng đáng, trễ mới tốt.
* Cơ nguyệt đồng cung ở Thân : Người xứng đáng, cưới sớm.
* Cơ nguyệt đồng cung ở Dần :Hay khó khăn, trễ mới tốt.
* Thiên Phủ ở Tị, Hợi : Khá giả, hòa thuận đến già.
* Thiên Phủ ở Sửu, Mùi, Mão, Dậu : Khá giả và chung sống đến già tuy hay cãi nhau.
* Thái Âm sáng : Khá giả, cưới sớm, chung sống bạc đầu.
* Thái Âm tối : Bất hòa, hôn phối không tốt, trễ mới tốt.
* Tham Lang tại Thìn, Tuất, Tý, Ngọ : Tốt, nhưng hay ghen. Trễ mới tốt.
* Cự Môn tại Tý, Ngọ, Hợi : Khá giả, ở được với nhau, nhưng hay bất hòa.
* Cự Môn tại Thìn, Tuất, Tỵ : Xung khắc, hay bỏ nhau.
* Thiên Tướng : Trai nể vợ, gái lấn áp chồng, trễ mới tốt.
* Thiên Lương Tý Ngọ :Vợ đẹp, chồng sang, khá giả.
* Thất Sát : Trễ mới tốt, sớm thì hình khắc chia ly.
* Phá Quân : Trễ mới tốt, sớm thì hình khắc chia ly.

Đăng Nhập
Nhị đẳng
Nhị đẳng
Bài viết: 271
Tham gia: 15:05, 03/02/10

TL: CÁCH XEM CUNG PHU THÊ???

Gửi bàigửi bởi Đăng Nhập » 14:27, 09/03/10

III- Ảnh hưởng của Trung Tinh và Hung Tinh

Các trung tinh tốt cho thêm ảnh hưởng tốt, về vợ hay chồng khá giả và về sự thuận hòa : Xương, Khúc, Khôi, Việt.


Sát Tinh (Không-Kiếp, Kình-Đà, Linh-Hỏa) : miếu vượng, thì chủ bất hòa, hoặc chia ly thời gian ngắn; hãm thì hình khắc, họa hại , người hôn phối xấu xa, bậy bạ ... Cũng phải xét thêm ở chỗ giao ảnh hưởng với các sao khác :
• Tả-Hữu : Tăng ảnh hưởng cho sao tốt hoặc cho sao xấu.
• Hóa Lộc : hôn phối giàu.
• Hóa Quyền : Vợ lấn quyền, chồng sang.
• Hóa Khoa : Hôn phối có học, có chức.
• Hóa Kị : Bất hòa.
• Lộc Tồn, Cô-Quả : Nên cưới trễ sẽ tránh chia ly.
• Thiên Mã : Nên duyên ở nơi xa.
• Phục Binh : Đi lại với nhau rồi mới cưới.
• Tướng Quân : Đi lại trước, cưới sau.
• Ân Quang, Thiên Quý :Vì ân tình mà lấy nhau.
• Song Hao : Cưới dễ hoang tòan.
• Cô, Quả : Bất hòa, hay xa cách.
• Đào, Hồng : Cưới xin dễ dàng, nhưng nếu Đào Hồng hãm : hình khắc chia ly.
• Thiên Diêu : Hoang dâm, bất chính.
• TUẦN-TRIỆT : Trễ mới tốt (để khỏi bị hinh khắc)
IV- Ảnh hưởng Chính Tinh so với Trung Tinh
Trong cung Phu-Thê, có cả chính tinh và trung tinh gặo nhau thì ảnh hưởng của Chính tinh mạnh hay ảnh hưởng Trung tinh mạnh ?

Xin thưa : Ảnh hưởng Chính tinh mạnh hơn ảnh hưởng Trung tinh.

Vậy nên chính tinh mà tốt, gặp Trung tinh xấu, thì cái tốt chỉ giảm đi chứ không bị xấu.

Nếu chính tinh có ảnh hưởng xấu gặp trung tinh tốt, thì cái xấu bớt đi chứ
cái tốt chưa có


Tuy nhiên có nhưng cách cố định, gặp phải là có một ảnh hưỡng nhất định, hoặc có những Trung tinh, hung sát tinh mạnh thì ảnh hưởng có khi lấn át cả Chính tinh.

V- VÀI DỮ KIỆN THÍ DỤ
- Phu-Thê có Cô-Quả, Đào-Hồng hãm, Tả Hữu, Không -Kiếp là báo hiệu sự hình khắc, chia ly.

- Lộc Tồn, Vũ Khúc, Cự Kỵ cũng thường báo hiệu sự chia ly.


- Một người có Tử-Phủ, Không Kiếp ở Thê, là cái tốt bị phá mất, mai mối nhiều lần không xong. Nhưng nếu sang Thân (ứng về hậu vận từ 30 tuổi trở ra), tốt thì lại dở. Người đó lập gia đình muộn,từ năm 35 tuổi trở đi, được tốt.


Sự kiện được ghi ở các cách chính tinh nêu ở trên (trễ mới tốt) được nghiệm ra là rất đúng. Gặp những chính tinh đó lập gia đình trễ thì không sao, tức là tránh được hình khắc chia ly.


-Xem vợ bé, phải xét cung Nô.


Tuy nhiên, cũng có cách người góa vợ, lấy vợ sau, phải đoán ra. Như gặp Tả-Hữu, Hồng Đào hãm, Không Kiếp, Cô Quả là cách góa vợ, nhưng lấy vợ sau thì khác đi.


- Có Tuần Triệt thì lập gia đình gặp cản trở. Hai người chê nhau, hoặc gặp khó, nhưng chỉ khó lần đầu thôi. Không phải có Tuần Triệt là không có vợ chồng. Còn Tuần Triệt gặp Tướng thì hình khắc (Tướng ngộ Tuần hay Triệt là cách độc).


Một người Mệnh có Liêm Trinh đắc địa, Thiên Không, Hồng Loan tại Dần, Thân, Tị, Hợi , là người đứng đắn, lòng chỉ muốn tu, thì không nghĩ đến việc lập gia đình. Tuy nhiên đến năm 35 tuổi gặp Đào, Thai, Phục, Vượng, Tướng... lòng tự nhiên thấy mở rộng ra tình yêu hoặc gặp trường hợp đặc biệt (!?) , thế là thành vợ thành chồng.

Có sao đứng đắn , phải gặp lúc có những sao thật bay bướm mới thành hôn.

VI- Hạn lấy vợ, lấy chồng
Xưa lập gia đình, nay trễ. Như vậy, cũng những người đó, những lá số đó, hoàn cảnh đất nước (như chiến tranh, đời sống khó khăn, việc lập sự nghiệp đeo đẳng kéo dài ....) có thể làm lệch số mạng chăng ? Cũng không hẳn thế, là vỉ có số mạng, nhưng cũng có con người quyết định mới được.

Vậy chăng. số vẫn có, bởi vì những cách báo hỉ vẫn xuất hiện, không năm nay thì qua năm khác.Năm nay không báo hỉ, không hôn nhân thì thi đậu, hay đi làm, không thi đậu, đi làm thì hôn nhân.

Sau đây là nhưng vận hôn nhân :
• Đại Tiểu hạn trùng phùng tại cung Phu hay Thê (Đại Hạn ở Thê cung. Tiểu hạn cũng vào cung đó.
• Hạn có Nhật-Nguyệt chiếu.
• Hạn có Đào Hồng Hỉ .
• Hạn có Sát, Phá , Liêm, Tham .....
Tức là những hạn có hỉ tinh. Phải xem cả Đại hạn và Tiểu hạn. Đại hạn có cách báo hỉ. Tiểu hạn cũng có cách báo hỉ, thì đó là hạn thành hôn.


VII- Trường hợp Thân Cư Thê và chồng sợ vợ

Người đời thường bảo rằng Thân đóng ở Thê là người sợ vợ , hay nói cho nhẹ đi là người nể vợ, điều đó rất sai.

- Thân cư Thê : Không phải là sợ Vợ.

- Thân cư Thê cũng không đương nhiên là nhờ vợ, cũng không phải Thân cư Phu là đương nhiên nhờ chồng. Thật thế, Cung Thê hay Phu mà xấu thì nhờ được nỗi gì đây? Họa chăng là cung đó tốt, nghĩa là chồng hay vợ được giàu sang, mình mới nhờ.

Vậy Thân cư Thê có nghĩa là gì ? Có nghĩa là cuộc đời của đương số chịu ảnh hưởng liền vào với vợ. Thân cư Phu cũng vậy. Chịu ảnh hưởng thì rời ra không được. Một Ông Thân cư Thê mà chúng tôi biết được một bà xã rất tháo vác, một tay quán xuyến việc nhà, ông không phải lo gì hết. Một ông khác Thân cư Thê, giao hết con cái cho vợ để ông đi làm chính trị, đôi khi ông cũng léng phéng, nhưng các cô mèo chỉ đi thoáng qua và ông vẫn coi vợ trọng hơn hết. Cũng có thể là ảnh hưởng bà xã mạnh ông chồng nể vợ là ở chỗ đó.

Thế tại sao chồng lại sợ vợ ? Gặp cách nào thì chồng sợ vợ ? Đó là khi cung Thê có quyền tinh. Vợ mà có quyền thì ông chồng phải sợ. Các cách quyền tinh ở cung Thê là những cách đứng đắn và quyền hành :
• Thiên Tướng, Quốc Ấn (mạnh)
• Tướng Quấn, Quốc Ấn (mạnh vừa)
• Hóa Quyền
• Khôi, Việt.
• Tử-vi, Tả, Hữu.
• Thiên Phủ, Tả Hữu ...
CUNG PHỐI NGẪU - Thiên Phúc Vũ Tiến Phúc Tử Vi Giảng Minh


Cung Ph ối Ngẫu (phu thê) chỉ về đường vợ của đương số nam, hay chồng của đương số nữ. Người ta sướng hay khổ cũng vì người phối ngẫu tốt xấu. Chúng tôi thấy có những ông Giám đốc, Tổng Thống, Thủ Tướng đau khổ vì vợ lăng loàn; ngoại tình hay đau ốm, tử biệt sinh ly.

Những người đó phải thèm cái cảnh của người thợ, mà vợ chồng tâm đầu ý hợp. Lại cũng có những người đàn bà mà chồng hư đốn, chơi bời, có vợ lẽ, con thêm, về nhà chửi vợ đánh con.

Tánh chất về người hôn phối có rất nhiều sự kiện khác nhau, mà khoa Tử Vi phân tích khá chính xác, kể cả tính chất chồng sợ vợ, vợ nắm quyền trong nhà.
Lại có sự kiện khá đặc biệt là xem cung Phối Ngẫu, tức là phần naò xem số của mình, vì chẳng lẽ người hôn phối giàu mà mình lại nghèo, người hôn phối phồn thịnh mà mình lại tàn mạt?

Ngoài ra nữa, lại còn sự kiện khác nhau trong khi giải đoán cùng một chi tiết giống nhau ở lá số nam hay lá số nữ.

Thí dụ như một ông có cung Thê Thiên Tướng, cái đó có nghĩa là bà vợ mạnh và ông đó sợ vợ; nhưng một bà có cung Phu Thiên Tướng thì cái đó lại không có nghĩa bị ông chồng mạnh và bà vợ đó sợ chồng mà lại cũng vẫn có nghĩa là ông chồng sợ vợ, nguyên do là vì người chồng bao giờ cũng chủ chốt, cho nên ở lá số nam hay lá số nữ, có những sự kiện chủ yếu đều là sự kiện của chồng – vì thế mà Thiên Tướng ở cung Thê hay cung Phu thì đều có nghĩa là chồng sợ vợ. Theo cái lý phụ nữ phải “tòng phu” của Á Đông, Mạng của người nữ kém hẳn phần quan trọng so với cung Phu của người chồng.


CUNG PHỐI NGẪU - Thiên Phúc Vũ Tiến Phúc Tử Vi Giảng Minh


Trường hợp khác nhau:

1.Ở lá số Nam

Hành mạng khắc hành chính tinh ở cung Thê = Người có mấy đời vợ. Có cả vợ chết, dù chính tinh miếu đắc cũng hỏng.


Chính tinh bị khắc đó gặp Tuần Triệt = Càng nguy hại hơn. Còn chính tinh ở Thê mà sinh cho hành Mạng, dù có bị Tuần Triệt cũng chỉ có nghĩa là chậm thôi.



Một ông cầm lá số đến hỏi cụ Thiên Lương về cung Thê. Cụ nói ngay: “Ông bị đến mấy đời vợ”. Ông nọ nhận đúng và bảo có cả vợ chết. Rồi hỏi tại sao cung Thê tôi có Thái Âm ở Dậu tốt thế này, không có Tuần Triệt, mà lại hỏng thế. (Trường hợp này ông này cung Mệnh an tại Tuấtm Thê an tại Dậu có Thái Âm đđ)

Cụ Thiên Lương đáp: “Thái Âm vừa miếu, vừa ở cung Âm thì tốt thật, nhưng hành Thái Âm là Thuỷ, ông lại Mạng Thổ, ông khắc vợ cho nên khó”

Khác thế, ông A mạng Kim, cung Thê có Tử Vi gặp Triệt chận đầu, tưởng là bị mấy đời vợ; nhưng lại chẳng sao. Ông chỉ chậm lấy vợ thôi, vì ảnh hưởng của Triệt. Còn Tử Vi, Thổ sinh cho mạng Kim, nên vợ chồng toàn hảo. (Ông này mạng Kim, Mệnh đóng tại cung Thân, Thê đóng tại Ngọc có tử Vi bị Triệt)

2- Ở lá số Nữ

Mạng khắc chính tinh ở cung Phu, chỉ có nghĩa là hôn nhân bị trắc trở (vì mạng nữ kém quan trọng). Còn phải tuỳ theo số chồng có yểu thì mới goá chồng, còn số chồng vững thì không sao.


Ngoài ra, xem đường Phu của người nữ, phải nhìn cung Mạng có Không Kiếp hay không. Mạng nữ có Không Kiếp thì nữ long đong về đường hôn phối (mấy đời chồng), còn không có thì chẳng sao.

Trường hợp sợ vợ

- Tam hợp Mạng bị tam hợp Thê khắc, thì sợ vợ.

Thí dụ: Tam hợp Mạng là Hợi Mão Mùi thuộc Mộc. Ông Nhâm Thìn mệnh đóng tại cung Hợi, Thê đóng tại cugn Dậu.

Tam hợp Thê thuộc Tỵ Dậu Sửu thuộc Kim.
Tam hợp Thê khắc tam hợp Mạng, ông
Nhâm Thìn sợ vợ (tánh ông rất lành).


Ở lá số nữ, tam hợp Mạng bị tam hợp Phu khắc, không có nghĩa là sợ chồng, mà lại có nghĩa là bà đó nắm quyền và ông chồng sợ bà đó.

- Lá số nam, cung Thê có Thiên Tướng = Sợ vợ. Lá số nữ, cung Phu có Thiên
Tướng = Đương số nắm quyền trong nhà, chồng phải nể vợ.




- Ở lá số nam, Thân cư Thê: Nể vợ, sợ vợ.


Điều này có nghiã là trong thời gian 30 tuổi trở ra, những biến cố trong cuộc đời người chồng có liên quan nhiều đến người vợ, phải bận tâm thắc mắc, phải bị ràng buộc, phải chịu nể nang vì lẽ này hay lẽ khác. Có khi nể sợ vì vợ đàng hoàng, có chức tước, làm ra tiền; có khi nể vợ vì bản thân chồng bê bối; có khi nể vợ vì tánh chồng lành trong khi tánh vợ cứng rắn.


- Cung Thê có Hoá Quyền.

Nếu có hai trong 4 yếu tố trên vào, thì sự nể vợ càng rõ ràng hơn.

Trường hợp hoà hợp trong hôn nhân

Trong Tử Vi có mấy cách để xét đoán sự hoà hợp trong hôn nhân, ta thường gọi là so đôi tuổi.

- Hành Mạng của Nam và Nữ sinh cho nhau (Mạng vợ sinh Mạng chồng thì tốt
hơn Mạng chồng sinh Mạng vợ – thuận lý theo Á Đông). Nếu khắc thì Mạng
chồng khắc Mạng vợ là tốt, Mạng vợ khắc Mạng chồng thì không tốt.
Người xưa chế biến các hành Mạng và giải thích Mạng vợ khắc Mạng chồng
cũng được, miễn trong thật tế không khắc. Như tuổi nữ Quý Hợi là Mạng Đại
hải thuỷ, không khắc mạng nam Kỷ Mùi là Thiên thượng Hoả, vì nước biển
không dập tắt lửa mặt trời.

Sự kiện đó, xét ra giả tạo vì yếu tố này dầu sao cũng chỉ có nghĩa đại cương mà
thôi.
- Xét 2 lá số, thấy có sự truyền tinh. Như cung Thê của nam có Tử Phủ. Và
ngược tại, cũng thế (cung Phu của nữ có chính tinh giống Mạng của nam).
Người ta còn dễ dàng mở rộng thêm bằng cả bộ chính tinh = Như cung Thê của
nam có bộ Tử Phủ Vũ Tướng, thì cung mạng của nữ cũng có bộ đó; cung Phu
của nữ có Sát Phá Tham, cung Mạng nam cũng có bộ đó, là được.
Yếu tố này cũng chỉ có ý nghĩa đại cương, vì mở rộng quá thì nhiều người gặp
sự truyền tinh như vậy.
- Kỹ hơn hết, là so sánh 2 lá số, thấy sự tương hợp giống nhau trong toàn bộ,
trong cả các vận, thí dụ như:

Số nam sống lâu mà số nữ lại sớm goá chồng thì không hợp (ngược lại cũng
thế).
Số nam yểu và số nữ sớm goá chồng thì hợp số.

Số nam không con mà số nữ nhiều con thì không hợp. Số con của nam và nữ
phải gần giống nhau thì mới hợp.

Có người còn làm chọn cả về vận hạn Đại vận tốt hay xấu phải như nhau mới
hợp số.

Người ta thường chọn chồng hơn vợ 1, 2 tuổi, để hạn tam tai lệch nhau, để vợ
chồng nhẹ hạn hơn và đỡ cho nhau (lúc nào cũng chỉ có một người bị tam tai). Còn nếu cùng tuổi hoặc hơn kém nhau 4 tuổi, thì hạn tam tai của cả 2 vợ chồng sẽ chập nhau, và sẽ nặng hơn, và khi 2 người cùng bị hạn thì không có người này đỡ đần cho người kia được.

Cung Phu Thê - Tác giả: Thiên Phúc Vũ Tiến Phúc

Xét yếu tố vợ chồng hoà hợp, nên rộng rãi, chấp nhận cả sự khắc nhau trong hành Mạng. Vì sự khắc nhau thường trong lời nói (khắc khẩu) là thường. Khắc khẩu, nhưng vẫn sống chung, vẫn đẻ con sồn sồn.

Sao / Ý Nghĩa
Tử Vi
ở Tí Ngọ: Vợ chồng thịnh vượng,hoà hợp.
Tử Tướng: Vợ chồng giàu sang, bất hoà.
Tử Phủ: Vợ chồng hoà hợp, thịnh vượng.
Tử, Sát: Quý hiển, bách niên,Không hợp tính.
Tử, Phá : Khá giả, hợp tính, nhưng hình khắc, chia ly.
Tử, Tham : Hợp tính, nhưng khắc nhau.
Thiên Phủ
ở Tỵ Hợi Mùi : 1 và 2 – Vợ chồng giàu.
ở Mão Dậu Sửu : Hoà thuận, bách niên.
Phủ Vũ , Phủ Liêm: 3 và 4 – Giàu, bách niên, nhưng không hợp tính.

Vũ Khúc
ở Thìn Tuất : Vợ chồng giàu sang, sống lâu.
Vũ Tướng (Dần Thân): Vợ chồng quý hiển, hạnh phúc.
Vũ Tham (Sửu Mùi): Khá giải, thiếu hoà khí, Vẫn sống chung.
Vũ Phá (Tỵ Hợi): Khá giải, hợp tính, hình khắc.
Vũ Sát (Mão Dậu): Nghèo, thiếu hoà hợp, vẫn sống chung.


Thiên Tướng
ở Tỵ Hợi Sửu Mùi: Vợ chồng khá giả, sống lâu, hoà thuận.
ở Mão Dần: Bình thường, sống lâu, hoà thuận.
Tướng Liêm: Giàu sang, hoà thuận, khắc nhẹ.

Thái Dương
ở Thìn Tỵ Ngọ: Quý hiển, chung sống lâu dài.
ở Tuất Hợi Tí: Bình thường, hay bất hoà.
Nhật Lương (ở Mão): Giàu sang, phúc thọ.
Nhật Lương (ở Dần): Làm ăn bình thường.
Cự Nhật: Vợ chồng giàu sang, hạnh phúc.
Nhật Nguyệt: Vợ chồng giàu sang, sống lâu.

Cự Môn
ở Tí Ngọ Hợi: Vợ chồng quý hiển, phúc thọ.
ở Thìn, Tuất, Tỵ: Vợ chồng nghèo, xung khắc.
Cự Cơ.: Vợ chồng giàu sang, xung khắc nhưng chung sống
Cự, Đồng: Vợ chồng hợp nhau, nhưng làm ăn kém.


Thiên Cơ
ở Tỵ Ngọ Mùi : Vợ chồng khá giả hợp nhau.
ở Hợi Tí Sửu: Vợ chồng kém, không hợp nhau.
Cơ Nguyệt (ở Thân): Vợ chồng giỏi, chung sống lâu dài.
Cơ Nguyệt (ở Dần): Vợ chồng kém cũng hợp
Cơ Lương: Vợ chồng quý hiển, thịnh vượng, đôi khi xích mích.

Thái Âm
ở Dần Tuất Hợi , Nguyệt Đồng (ở Tí ): 1 và 2 – Vợ chồng giàu sang, chung sống đến già.

ở Mão Thìn Tỵ , NguyệtĐồng (ở Ngọ) 3 và 4 – Vợ chồng kém cỏi, bất hoà.
Thiên Đồng
ở Mão: Vợ chồng thịnh vượng, sống lâu.
ở Dậu Thìn Tuất: Vợ chồng hiền lành, nhưng làm ăn kém.
ở Tỵ Hợi: Vợ chồng khá giả, làm ăn thất thường.
Đồng Lương: Vợ chồng giàu sang, sống lâu.

Thiên Lương
ở Tí Ngọ Sửu Mùi: Vợ chồng quý hiển, phúc thọ.
ở Tỵ Hợi: Vợ chồng hiền lành, làm ăn thất thường.

Thất Sát
ở Tí Ngọ Dần Thân: Vợ chồng quý hiển, hay xích mích.
ở Thìn Tuất: Vợ chồng khó sống chung, hay tai hoạ, cản trở.
Liêm Sát: Vợ chồng tài đảm, khó sống chung, hay rủi ro.

Phá Quân
ở Tí Ngọ Thìn Tuất: Vợ chồng khá giả, nhưng bất hoà.
ở Dần Thân: Vợ chồng suy bại, bất hoà, hình khắc, gái lấy chồng bất nghĩa.
Liêm Phá: Làm ăn khá, xung khắc.
Liêm Trinh
ở Dần Thân: Vợ chồng nghèo, làm ăn khó.
ở Liêm Tham: Vợ chồng nghèo, bất hoà hay tai nạn (chồng hay vợ là con trưởng)

Tham Lang
ở Thìn Tuất :
Vợ chồng giàu sang, nhưng chơi bời xích mích.
ở Tí Ngọ Dần Thân: Vợ chồng nghèo, hay rủi ro, hình khắc.

TRUNG TINH VÀ HUNG TINH

Tuần Triệt: Hình khắc hoặc muộn màng.

Song Lộc: Vợ chồng giàu có.

Khoa Quyền: 1 người danh giá, chồng nể vợ (Quyền ở Thê).

Quyền, Lộc: Nhờ vợ mà giàu.

Xương, Khúc, Khôi, Việt: Vợ đẹp, có học, chồng sang.

Khôi (Việt): Vợ hay chồng là con trưởng.

Tả Hữu: Cưới dễ, giúp nhau (nhiều sao xấu lại xấu).

Long Phượng: Đẹp đôi, danh giá.

Hồng Đào: Vợ hay chồng đẹp.

Hồng Đào Địa Kiếp: Dễ bị hình khắc (Mệnh tốt thì thôi).

Hồng Đào Tồn: Đoan chính.
Hồng Đào Tả Hữu: Trai nhiều vợ, gái bỏ chồng.
( Long, Phượng, Tả Hữu).

Đào Thai đồng cung: Ăn ở với nhau trước khi cưới.

Đào Riêu (Mộc Cáo): lấy người dâm đãng.

Hồng Kỵ: Bỏ nhau.

Đào Hồng Phượng Cái (ở Thê): Chồng muốn bỏ vợ.

Nguyệt Đức, Đào (hay Tham): Vợ chồng đẹp.

Đào Hồng, Hình (ở Thê): Vợ đoan chính.

Hồng (ở Phu): Chồng nhiều vợ.

Cung Phu ở Tứ Mộ có Hồng (hay gặp Tử Sát): Khóc chồng.

Hồng ở Thê: Khóc vợ.

Lục Sát: Bất nhân, tai hoạ, bỏ nhau.

Tang Hổ Song Hao: Trắc trở.

Kình Đà Kỵ + Nhật Nguyệt hãm: xa nhau, hại nhau.

Binh Kỵ: Oán ghét nhau.

Mã Đào: Lấy nhau vì tình, không do mai mối.

Mã, Tuần, Triệt (ở Thê): Vợ trốn đi.

Mã + 1 Không (ở Thê): Vợ trắc nết, bướm ong.

Hư: Vợ chồng bất chính.

Bật (ở Phu): là vợ nhỏ.

Bật, Đẩu (ở Phu): Là vợ lớn, nhưng cô đơn.

Cô Hình: Xa nhau.

Lương (Tướng) Khôi Việt: Vợ hay chồng quý phái.

Thái Âm miếu (ở Thê): Vợ đài các.

Tham (ở Phu) Mệnh có Chính Diệu: là vợ lớn.

Tham (ở Phu) Mệnh Vô Chính Diệu: Là vợ nhỏ.

Tham, Đà (ở Phu): Chồng rượu chè, trai gái.

Phúc Không: Tình duyên trắc trở.


Phá Quân hay Thất Sát, Hình, Riêu, Binh: Ghen, giết nhau (hại nhau).

Kinh nghiệm coi cung Phu Thê - Tác giả Sở Lưu Hương

Một điểm đặc biệt khi coi phu thê là cung phu thê chỉ cho ta coi hoàn cảnh khi gặp gỡ, còn khi sống chung đã thành lập gia đình thì phải coi cung Nô làm quan trọng hơn.

Ví dụ như Nữ Mệnh có Đào Hoa Đế Vượng cư Nô thì chồng bay bướm... Coi ly dị khi vợ chồng đã có con thì coi cung Nô, ví dụ như Âm Dương lạc hãm cách cung và chiếu Nô thì hai đời....


Đào Hoa Thiên Không đồng cung: hoa rơi

Đào Hoa Địa Kiếp đồng cung: hoa héo


Âm Dương lạc hãm thì dễ bị lừa do thiếu sáng suốt, nhất là tại Thìn Tuất, và hơn nữa nếu Mệnh đóng tại Thìn Tuất


Âm Dương đồng cung: vợ chồng tranh quyền nhau, hạn đến thì sẽ có chuyện tranh chấp giữa vợ chồng khiến dễ đưa đến chia ly, nếu chưa có gia đình thì không thể lập gia đình trong giai đoạn này được


Âm Dương cách cung (như Nhật tại Dần, Nguyệt tại Tí) thì vợ chồng chia ly, hoặc ít gần nhau (do công vụ....)


Âm Dương Thìn Tuất lạc hãm: tuy vợ chồng cãi nhau nhưng khó bỏ nhau


Âm Dương lạc hãm chiếu hạn thì cần đề phòng bệnh về mắt (mắt đau, mắt bị mổ)


Nhật Nguyệt tranh huy ngộ Kỵ thì không tốt


Giải thế Âm Dương cách trở thì là Tam Hóa Liên châu cư ngoại địa....


Mệnh nhị hợp cung nào thì thường bận tâm lo lắng (khổ) về điều đó, mang nặng nợ về một điều gì đó


Mệnh nhị hợp Tử Tức thì lo lắng về con cái, khổ vì con cái hoặc mặc cảm trên vấn đề con cái (như không có con...)


Mệnh nhị hợp Huynh đệ thì khổ về anh em. Có Tuần nối thì anh chị em xa thì thương nhau, gần lại không hợp....


Mệnh nhị hợp Nô thì trẻ có bạn nhiều, hay chơi với bạn....


Nhị hợp với Phụ Mẫu thì con cái quan tâm cha mẹ, hoặc cha mẹ quan tâm đến con cái


Nữ Mệnh Thân nhị hợp với Phụ Mẫu thì gắn bó với cha mẹ chồng

Kinh nghiệm coi cung Phu Thê - Tác giả Sở Lưu Hương

Cung VCD


Phụ mẫu VCD thì cha mẹ thường sống lâu (xem thêm Nhật, Nguyệt)


Tật Ách VCD thì ít bệnh tật


Tam hóa liên châu cư ngoại địa, phúc tất trùng lai (không tai họa trong đời, đời ít tai họa, bệnh tật, tù tội)


Hóa Lộc tại Tứ Mộ thì Lộc bị chôn vùi, do đó chủ về phúc hơn là chủ về tiền tài


Lộc Tồn Hóa Lộc đồng cung không tốt, chủ về họa đến bất ngờ do tiền tài gây ra


Lộc Tồn mang tính chất tồn đọng, chưa hẳn là tốt (như tại Tử thì chậm con, ít con, tại Phu Thê thì vợ chồng bất hòa, chiếu tốt hơn thủ (thủ bị giáp Kình Đà), hạn VCD có Lộc Tồn thủ thường không tốt


Lộc Tồn thủ Mệnh thì cố chấp, độc đoán, gia trưởng, làm theo ý mình không hỏi người khác, cô đơn....


Cự Môn chủ về bất đắc chí, bất mãn, thêm Phá Toái thì càng bất mãn, cần có Tuần, Triệt, Song Hao, Thiên Hình...đồng cung.

Cư Thiên Di thì hay nói, hay bất mãn, không bằng lòng, không nên ra nước ngoài dễ bất mãn...

Quan Lộc có Cự Môn gặp Triệt thì làm việc lớn được, việc nhỏ không được, làm trong lúc loạn ly biến động thì rất giỏi, làm thẳng thì không được nhưng làm quanh co,lắc léo, khó khăn thì lại được.Tử Tức có Cự Môn thì bất mãn về con cái


Mệnh hay Tử Tức có Quả Tú thì thường là con một bề (hoặc toàn là trai, hoặc toàn là gái)


Tam hợp chiếu tại cung VCD thì phải tại Tứ Mộ mới ăn, tại các cung khác thì lấy xung chiếu

Khốc Hư Tí Ngọ, Nữ Mệnh thì tính tình mau mắn, nhanh lẹ, nói nhiều

Mệnh Khốc Hư Tí Ngọ Mão Dậu thì nói mau lẹ, làm mau lẹ, đời gặp may mắn

Khoa gặp Khốc Hư thì học hành nhanh

Khốc Hư hãm tại Tật thì bị ho, ho lao

Hư tại Mệnh thì hay ho, mắc bệnh phổi

Kinh nghiệm coi cung Phu Thê - Tác giả Sở Lưu Hương

Thân cư cung nào thi cuộc sống gắn liền với cung đó


Ví dụ Thân cư Quan thì bôn ba vật lộn kiếm sống, vợ chồng góp gao thổi cơm chung (cả hai cùng nhau lo về kinh tế), nữ Mệnh dễ hai đời chồng nếu cồng về kinh tế yếu, trừ khi ly hương thì có khả năng giải được


Thân cư Phu thì rổ rá cặp lại, nếu lấy người Thân cư Thê thì sống lâu bền....


Thân nhị hợp Nô thì thương chồng, lo cho chồng


Thái Tuế thủ Mệnh thì tự hào, hãnh diện về bản thân, làm nghề liên quan đến ăn nói thì tốt nhất (như luật sư, thầy giáo, công an cảnh sát, thẩm phán...)


Thái Tuế mang tính chất tự hào, đóng tại Tử Tức thì tự hào về con cái, hay nói về con mình, tại Phu Thê thì tự hào về chồng hay vợ, hay khoe chồng vợ mình....


Thái Tuế tại Phu Thê thì lấy dễ, lấy nhanh, hài lòng, yêu thực sự....


Lưu Thái Tuế xung chiếu hạn thì dễ vướng vào cãi cọ, thị phi, hoặc kiện tụng...


Có Thái Tuế thủ Mệnh cũng có khả năng là con trưởng


Tuần Triệt đương đầu (xung chiếu Mệnh) thiếu niên tân khổ (vì bệnh, khổ tâm....)


Xem cung Phụ Mẫu thì phải là con trưởng hoặc út thì mới xem rõ được


Không Kiếp tại Tỵ thì phát nhanh, tàn nhanh, tại Hợi phát nhưng còn giữ lại được


Thiên Tài chủ sự cắt giảm, đóng tại Mệnh thì khó làm lớn (vì nghĩa cắt giảm), tại Tật thì lại tốt (cắt giảm bệnh tật)


Quả Tú hành Kim, Cô Thần hành Hỏa


Điền VCD thì khó giữ nhà đất bền vững, cho dù có sau giữ của như Quả Tú


Tử VCD thì khó có con, vẫn có con nhưng không nhờ được con


Tật VCD thì ít bệnh tật


Huynh VCD thì không nhờ nhau


Phúc VCD thì lại tốt


Phụ Mẫu VCD thì không giúp đỡ được cho cha mẹ nhiều, hoặc cha mẹ cũng không giúp đỡ cho con nhiều


Điền VCD gặp Triệt đương đầu: ăn trong cảnh bất ngờ, náo loạn (bất thường, phản vi kỳ cách)


Nữ Mệnh VCD thì đỡ xấu hơn là Nam Mệnh VCD

Kinh nghiệm coi cung Phu Thê - Tác giả Sở Lưu Hương

Đào Hoa thuộc Mộc, Mộc Dục thuộc Thủy, gặp nhau thi độ số gia tăng

Đào Hoa cư Dậu thì duyên phận bẽ bàng, cư Tí thì lẳng lo, cư Mão thì tốt đẹp

Mệnh Tang Môn thì mặt buồn so, hiền lành

Mệnh Bạch Hổ thì có thể xinh nhưng rất dữ, gian nan, đáo để, vất vả, gian truân

Nữ Tang khổ hơn Hổ

Bạch Hổ Nữ Mệnh thì nhiều lo lắng, tại Phu thì khó lấy chồng

Bạch Hổ cư Dậu, Mệnh VCD Nữ Mệnh thì có tiếng tăm, tuy phát về sự nghiệp nhưng tình duyên, hạnh phúc gặp trục trặc, trắc trở

Bạch Hổ tại Phu Thê thì lập gia đình muộn màng, khó khăn

Các tuổi Dần Thân thì tác họa của Bạch Hổ giảm đi

Thiên Giải mang tai họa về tinh thần, Địa Giải mang tai họa về vật chất

Thiên Giải giải mạnh hơn Giải Thần, giải toàn bộ tai họa, tại Tài thì không tốt (giải hết tiền tài)

Địa Giải hành Thố (Địa), có lẽ bịa thêm, có lẽ tuổi Thìn Tuất Sửu Mùi và hành Thổ thì bị ảnh hương mạnh, giải sạch tốt xấu

Song Hao gặp Địa Giải đồng cung thì xấu

Song Hao Mão Dậu, sinh giờ Thìn và Dậu thì mới ăn

Tướng Quân chỉ về lãng mạn, gặp Đào Hoa, Mộc Dục, Hồng Loan...chủ về dâm

Hỏa Linh tại cung Thủy thì không tác họa lắm

Tốt tại cung Mộc và Hỏa

Hỏa Linh cư cung Hỏa, Mộc thì tốt, ăn nói khúc triết, tại cung Thổ thì bình hòa, tại cung Kim thì ăn nói ẩu tả, thô lỗ hoặc cộc cằn....

Hỏa thì bộc phát nhanh

Linh thì phát chậm nhưng lâu bền

Mệnh Linh tinh, nếu có bệnh thì lâu khỏi


Quay về “Tử vi - Xem tử vi”

Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: 420 khách.