Có một vị Bồ Tát thật trên đời!

Trao đổi về lĩnh vực văn hóa và các môn cổ học khác
Trả lời bài viết
Mẫu Đơn
Nhị đẳng
Nhị đẳng
Bài viết: 261
Tham gia: 11:35, 24/12/09

Có một vị Bồ Tát thật trên đời!

Gửi bài gửi bởi Mẫu Đơn » 11:15, 29/12/09

Hầu như tất cả những người cần những thông tin qua văn bản Hán - Nôm không ai là không biết đến từ điển Thiều Chửu, cái tên nghe lạ và ít được trưng trên báo chí. Nhân cũng có việc cần đến từ điển Hán Nôm tự dưng tò mò về cái tên này, bỗng lặng người về một nhân cách lớn và một tấm lòng như Bồ Tát của một con người. Xin lấy nguyên tên topic là tên của bài báo đăng trên http://www.nld.com.vn" target="_blank, bài báo viết để tưởng nhớ Thiền sư Thiều Chửu nhân VESAK 2008, vì không thể tìm thấy tiêu đề nào đúng hơn. MĐ xin được chia sẻ những gì đã đọc lên diễn đàn để những ai chưa biết thì sẽ biết về một nhân cách xứng đáng lưu danh thiên cổ, không kém bất cứ học giả trí sĩ nào xưa nay.
--------------------------------------------------------------
Bi kịch của một con người
Hình ảnh
Học giả Vũ Khiêu đánh giá Thiều Chửu là một con người chân chính, một nhà trí thức lớn của dân tộc và tặng ông câu đối: "Nửa kiếp trầm luân, bác cổ thông kim, lòng bốn bể; Trăm năm phù thế, cứu dân báo quốc, phép muôn đời". Học giả Vũ Tuấn Sán nhận định ông là một hiện tượng khá đặc biệt trong giới trí thức ở thế kỷ XX, một người sống cuộc đời thanh cao, hoàn toàn vì lý tưởng. Tiến sĩ Nguyễn Quốc Tuấn (Viện Nghiên cứu Tôn giáo Việt Nam) coi Thiều Chửu là nhân vật Phật giáo xuất chúng thế kỷ XX. Đại đức Thích Đồng Bổn ca ngợi ông là bậc Nho sĩ, Đại sĩ, Chí sĩ, rạng danh Tiết sĩ. Sách “Tiểu sử danh tăng Việt Nam thế kỷ XX” tập I viết: "Thiều Chửu là một phật tử xứng đáng tiêu biểu cho hàng cư sĩ trong đạo Phật có công lớn trong lịch sử chấn hưng Phật giáo miền Bắc."2
Tiếc thay, do sai lầm của đội cải cách ruộng đất ấp Đồng Tâm, xã Đồng Liên, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên (nơi ông và đoàn Tế Sinh tạm trú), vị Bụt - Bồ Tát ấy bị quy là “địa chủ” và bị đội xỉa xói mắng nhiếc luôn ba bốn giờ, vu cho đủ các tội ác, dùng những lời nói rất khinh bỉ hà khắc, chỉ khác với đấu tố là (tôi) chưa phải quỳ thôi.4 Một tháng sau, mờ sáng ngày 15-7-1954 tức 16-6 Giáp Ngọ (một ngày sau giỗ cụ Cử Cầu và 5 ngày trước hôm ký Hiệp định Geneva), Thiều Chửu kín đáo tự giải thoát đời mình trên sông Cầu chỗ đập Thác Huống. Cái chết “Thiên cổ kỳ oan”, vì nước vì dân, chỉ có Bồ Tát mới làm được ấy (lời thiền sư Lê Mạnh Thát)2 đã gây ra nỗi chấn động và tiếc thương vô hạn trong dân chúng địa phương và giới phật tử cả nước. Ít lâu sau, đội cải cách hạ thành phần ông xuống “trung nông”; nhưng ở cái thời kỳ ngạt thở “Nhất đội nhì trời”, vụ tự vẫn kinh hoàng đó đã bị lợi dụng để phủ bóng đen lên quá khứ sáng ngời của ông. Tới đầu thế kỷ XXI vẫn có người tránh nhắc đến cái tên Thiều Chửu!
Ni sư Đàm Ánh kể ông có dặn đừng vớt xác mình, nhưng các hậu duệ và học trò không ai nỡ làm thế. Sau hòa bình lập lại, họ rước hài cốt ông về Hà Nội, cuối cùng an táng tại nghĩa trang Thanh Tước (số mộ 170-C3). Tháng 6-2002, các hậu duệ ông cùng Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam và tạp chí Tia Sáng đã tổ chức “Sinh hoạt lịch sử tưởng niệm 100 năm sinh nhà văn hóa Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha” tại Văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội.
Trước khi về với tổ tiên, Thiều Chửu thức trắng đêm viết thư tuyệt mệnh gửi Hồ Chủ tịch, thư dặn dò các học trò phấn đấu theo kháng chiến chống Pháp đến cùng và viết lời kết bản Tự Bạch (cũng gửi Hồ Chủ tịch) như sau: “Cái án “mạc tu hữu” (tức vu cáo, ông viết chữ Nho) mà ông Nhạc Phi phải chịu đời phong kiến còn có lẽ; ai ngờ đời nay chính bản thân tôi lại bị, thì tôi còn biết van vỉ làm sao được nữa”.
( http://www.nld.com.vn" target="_blank)
(còn nữa)
Sửa lần cuối bởi Mẫu Đơn vào lúc 11:26, 29/12/09 với 1 lần sửa.

Mẫu Đơn
Nhị đẳng
Nhị đẳng
Bài viết: 261
Tham gia: 11:35, 24/12/09

TL: Có một vị Bồ Tát thật trên đời!

Gửi bài gửi bởi Mẫu Đơn » 11:17, 29/12/09

(tiếp theo)

Triết lý đạo Phật cho rằng bất cứ sinh vật nào biết tu tập thì cũng có thể thành Phật, tức bậc giác ngộ. Xin mở ngoặc là thiền sư Thích Nhất Hạnh không dùng từ Phật mà dùng “Bụt” – một cái tên rất Việt Nam; và ông dùng từ “đạo Bụt”.

Dân ta quen gọi những người lành như đất mà lại hay giúp kẻ khác là Bụt; và gọi những người có lòng vị tha trời biển là Bồ Tát”. Bồ Tát là từ Hán Việt gọi tắt của từ gốc chữ Phạn Bodhisattva – ghép bởi bodhi (enlightenment: giác ngộ) và sattva (essence: bản chất; thể tồn tại trừu tượng). Theo nhà Phật học Edward Conze, Bồ Tát là vị Phật (Bụt) có ba đặc điểm: khao khát đạt được sự giác ngộ hoàn toàn; giàu lòng từ bi và trí tuệ; gần gũi những người thường và có các suy nghĩ, cảm xúc như họ.

Với cách hiểu như trên, có thể suy ra trên thế gian từng có và sẽ có không ít vị Bụt - Bồ Tát thực, chỉ có điều thiên hạ không nhận ra hoặc biết quá ít về họ – vì họ là Bồ Tát mà!

“Cây chổi lau” Thiều Chửu

Và nước ta nửa đầu thế kỷ XX từng có một người hội đủ ba đặc điểm nói trên, một vị Đại Bồ Tát bằng xương bằng thịt hiện thực giữa cõi đời, như lời thiền sư Lê Mạnh Thát. Tuy đã đi xa hơn nửa thế kỷ nhưng di sản văn hóa vô giá ngót trăm tác phẩm ông để lại sẽ làm cho con người ấy sống mãi. Ông cũng hãy còn một học trò là ni sư Thích Đàm Ánh, 85 tuổi, hiện trụ trì chùa Phụng Thánh (Khâm Thiên, Hà Nội).

Vị Bụt - Bồ Tát ấy là cư sĩ Nguyễn Hữu Kha (1902-1954), quê xóm Cam Đường, làng Trung Tự, phường Đông Tác (nay là tổ dân phố 81, phường Kim Liên, quận Đống Đa, Hà Nội). Giới phật tử biết ông dưới bút danh Thiều Chửu – “cái chổi lau” ông nguyện dùng để quét sạch bụi bặm trong lòng mình và mọi thứ rác rưởi trên đời – một cái tên thật giàu ý nghĩa!

Cư sĩ thuộc đời thứ XIV của dòng họ Nguyễn Đông Tác có mặt tại thành Thăng Long từ cuối thế kỷ XV. Tổ ba đời của ông là tiến sĩ Nguyễn Văn Lý (1795-1868), nhà văn hóa nổi tiếng. Cha ông là cử nhân Nguyễn Hữu Cầu (1879-1946), đồng sáng lập viên phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, từng bị đày ra Côn Đảo nhiều năm vì tội chống Pháp, một đại sĩ phu, như cách gọi của học giả Nguyễn Văn Tố3. Anh ruột ông là nhà sư phạm mẫu mực Nguyễn Hữu Tảo (1900-1966).

Với truyền thống gia tộc như vậy, tại sao Nguyễn Hữu Kha lại chọn con đường làm một cư sĩ Phật giáo dâng cả đời mình cho lý tưởng phụng sự đồng bào? Ta bỗng nhớ tới một câu các phật tử thường nhắc lại: Có một người sinh ra trên thế gian này là vì hạnh phúc của muôn người...

Hữu Kha bẩm sinh đa sầu đa cảm lại lớn lên dưới ảnh hưởng sâu sắc của bà nội giàu lòng nhân ái và người cha say sưa hoạt động yêu nước chống Pháp. Ông kể về tuổi thơ của mình: Nhà nghèo quá, chị em tôi 7-8 tuổi đã phải chăn bò cắt cỏ, gánh nước, thổi cơm nấu cám, 10 tuổi tát nước, 12 tuổi cày bừa. Năm tôi 13 tuổi, bố bị giặc Pháp bắt, được hai tháng thì mẹ sinh con thứ 8. Đẻ được 3 ngày mẹ đã phải đi làm đồng. Tôi suốt ngày đứng rình ở cổng nhà pha (tức Hỏa Lò) Hà Nội, hễ thấy bố bị giải sang tòa án thì chạy theo, bị lũ mật thám đánh rất đau. Tôi căm thù tủi nhục nhưng thân hèn biết làm gì? Đọc truyện ông Gia Phú Nhĩ (Garibaldi) thấy ông nói với bạn làm mối vợ cho mình rằng “Ý Đại Lợi là vợ, Ý Đại Lợi là con”, từ đó tôi nảy ra ý muốn học ông ở điểm đó... Sau đấy tôi không hề nghĩ tới cái đời riêng của tôi nữa. Người ta cho là tôi tin đạo Phật mà không lập gia đình, họ chưa biết nỗi uẩn khúc của tôi từ thuở còn thơ dại.

( http://www.nld.com.vn" target="_blank)
(còn nữa)

Mẫu Đơn
Nhị đẳng
Nhị đẳng
Bài viết: 261
Tham gia: 11:35, 24/12/09

TL: Có một vị Bồ Tát thật trên đời!

Gửi bài gửi bởi Mẫu Đơn » 11:19, 29/12/09

(tiếp theo)

Lời thề cứu khổ, cứu người

Năm sau, Hữu Kha tụng kinh siêu độ trong lễ tang bà nội, khi đọc đến câu Phật nói “Nhân dân là cha mẹ bao đời của ta, ta phải hiếu kính cúng dàng; muôn vật đều có tính Phật, cũng bình đẳng với ta; ta phải làm cho mọi người đều bình đẳng” cậu bé vô cùng xúc động, thề suốt đời theo Phật để cứu khổ cho muôn người. Quyết tâm ấy càng mạnh hơn sau khi Hữu Kha mục kích cảnh nhục nhã mẹ ông vì cần vay tiền để làm vốn cho ông đi bán hàng rong mà phải lễ lạt cho lý trưởng bảo lãnh và chầu chực như kẻ ăn mày: Tôi thề rằng đời tôi hễ ai thiếu thốn muốn nhờ tôi thì dù họ chưa hé miệng, tôi đã vâng. Tôi còn một bát gạo mà ai đói hơn tôi cũng nhường ngay, thà tôi chịu nhịn4. Hữu Kha một mình xuống Đồ Sơn bán thuốc Nam và bánh kẹo kiếm sống. Vì tin người nên mất hết vốn, ông phải làm phu kéo thuyền, đẩy xe, thậm chí đi ăn xin. Trong hai năm cực nhục ấy, ông ngày một thêm tin yêu triết lý cứu khổ, cứu người của đạo Phật.

Cuối năm 1920, cụ Cử Cầu từ Côn Đảo về, Hữu Kha giúp cha mở hiệu thuốc Lợi Nhân Đường ở Ngã Tư Sở. Hiệu đông khách nhưng tình thương người bởi thương thân kia đã sâu lắm nên tôi chỉ giấu giếm bố giúp đỡ người nghèo, vì thế 3 năm trời hai bố con chỉ đủ ăn chẳng thừa đồng nào4. Bù lại, ông học được nghề thuốc Nam và trở thành vị lương y suốt đời chữa bệnh không công. Ông lấy hiệu Tịnh Liễu (tịnh: trong sạch, liễu: hiểu biết), bắt đầu nghiên cứu đạo Phật.

Tịnh Liễu đi nhiều chùa tham thiền vấn đạo, gặp các vị chân tu nổi tiếng như hòa thượng Thích Thanh Hanh ở Lạng Giang, hòa thượng Thích Thanh Thuyền ở Nam Định, cư sĩ Lê Đình Thám ở Huế... Qua chuyến đi này, ông nhận ra xu hướng suy tàn của Phật giáo: Khi đi sâu vào nhà chùa, tôi thấy sự tổ chức ở chùa không đúng một chút nào với lời Phật dạy; trái lại hoàn toàn dập theo khuôn khổ phong kiến chia giai cấp rất khắc nghiệt, hưởng thụ xa xỉ, bỏ mất hẳn cái tinh thần trọng lao động, không theo quy chế “Một ngày không làm một ngày nhịn ăn” của Tổ Bách Trượng. Lại còn dùng thuật mê tín vẽ ra đàn tràng cúng bái, đục khoét nhân dân để sống một đời nhàn rỗi. Vì thế tôi nhất định không theo chế độ đó; cho tới ngày nay tôi cũng chỉ là một tín đồ tín ngưỡng triết lý mà thôi. Hơn nữa, nếu có dịp, tôi sẽ đánh đổ cái chế độ mục nát ấy. Sau đó tôi theo đuổi việc chấn hưng Phật giáo4. Chắc đây là lý do Nguyễn Hữu Kha không vào chùa làm sư, mà chỉ làm cư sĩ tu tại gia, suốt đời vừa lao động kiếm sống vừa hoằng dương Phật pháp; không vợ con, trường trai mà mỗi ngày chỉ ăn một bữa đúng giờ Ngọ, quanh năm mặc nâu sồng, đi guốc mộc tự đẽo lấy, đêm nằm trên tấm phản kê dưới nền nhà, không màn, mùa rét đắp chiếc chăn sợi mỏng.

Học giả “lạc khổ”

Năm 26 tuổi, Nguyễn Hữu Kha lấy bút danh Lạc Khổ (“Vui trong cảnh khổ”), bắt đầu dịch kinh Phật ra quốc ngữ – vì ông thấy kinh người ta tụng toàn là kinh chữ Hán nên họ chẳng hiểu gì. Dịch kinh thực sự là việc cực kỳ khó nhọc, phải giỏi cả Hán học, Phật học, nhưng ông quyết làm với suy nghĩ: Vì kém tinh thần tự lập cho nên ta cứ vùi đầu với kinh chữ Hán, ít người dám dịch kinh sang tiếng ta. Kinh chữ Phạn dịch ra chữ Hán được, thì dịch ra chữ ta cũng được chứ sao! Chữ quốc ngữ của ta rất dễ phổ biến, dịch âm lại đúng hơn chữ Hán5. Tuyển tập 16 kinh cơ bản do Thiều Chửu dịch được Nhà Xuất bản Tôn Giáo in lại năm 2002 là một ghi nhận cố gắng ấy.

Nhờ cần cù tự học, lao động chân tay và trí óc, nên việc gì ông cũng giỏi, tháo vát, miệng nói tay làm. Năm 1932, ông tự in tác phẩm của mình là bản dịch Kinh Vô Thường; rồi dùng bút danh Thiều Chửu in Khóa Hư Kinh dịch nghĩa – bản dịch ra quốc ngữ tác phẩm Khóa Hư Lục nổi tiếng của Trần Thái Tông. Học giả Nguyễn Lang (tức Thích Nhất Hạnh) nhận xét: Thiều Chửu là một cây bút rất vững chãi và sâu sắc; căn bản Hán văn của ông rất vững; văn Khóa Hư là văn biền ngẫu rất khó dịch nhưng bản dịch của ông rất đặc sắc, đọc êm tai, nghĩa lý khá rõ ràng6.

Thiều Chửu chưa ngày nào được đi học. Bà nội dạy ông chữ Hán và quốc ngữ; sau đó chỉ nhờ dày công tự học mà ông sớm tinh thông Tứ Thư, Ngũ Kinh, 30 tuổi đã thạo ngoại ngữ Pháp, Anh, và đặc biệt giỏi Hán học, Phật học. Ông dùng thuốc Nam chữa khỏi bệnh cho nhiều người và viết loạt bài Bà Lang Nhà rất lý thú đăng nhiều kỳ trên báo Đuốc Tuệ. Ni sư Đàm Ánh có câu cửa miệng “Chẳng ai giỏi bằng thầy tôi” và hay kể: ông đỡ đẻ mát tay đến mức nhiều gia đình đến nhờ trước hàng tháng. Việc viết sách báo mang lại thu nhập cao nhưng ông sống rất khổ hạnh, bao nhiêu tiền kiếm được đều đem nuôi trẻ mồ côi, giúp người nghèo khổ. Thời gian tản cư kháng chiến, ông dẫn đầu phá rừng trồng khoai sắn nuôi sống cả trại Tế Sinh của mình. Có thời kỳ 40 người mỗi bữa chỉ có 4 bơ gạo nấu với lá rau khoai lang thế mà ông kiên quyết trả lại mấy lạng vàng (tiền xuất bản tác phẩm của ông) do thượng tọa Tố Liên từ Hà Nội gửi ra4


( http://www.nld.com.vn" target="_blank)

(còn nữa)

Mẫu Đơn
Nhị đẳng
Nhị đẳng
Bài viết: 261
Tham gia: 11:35, 24/12/09

TL: Có một vị Bồ Tát thật trên đời!

Gửi bài gửi bởi Mẫu Đơn » 11:21, 29/12/09

(Tiếp theo)

Chấn hưng Phật giáo

Thiều Chửu cộng tác với các phật tử chân chính trong việc theo đuổi lý tưởng chấn hưng Phật giáo nước nhà. Năm 1933, sa môn Thích Trí Hải từ Hà Nam lên Hà Nội vận động thành lập Hội Phật giáo Bắc Kỳ đã đến ngay hiệu Hòa Ký bàn việc với Nguyễn Hữu Kha. Hồi ký của hòa thượng Thích Trí Hải kể: Hai người chúng tôi vừa gặp nhau mà tưởng như đã quen nhau từ bao đời… Cuối năm 1933, hàn thử biểu ở Hà Nội xuống tới 7-8oC mà tôi và ông Kha chỉ đắp chung một cái chăn sợi Nam Định mỏng nằm trên chiếc chiếu trải trên nền nhà phố Sinh Từ. Hai ông góp công lớn trong việc sáng lập Hội Phật giáo Bắc Kỳ (1934). Nhưng khi được mời vào Ban Trị sự hội thì Thiều Chửu lại do dự vì thấy ban có mấy quan lại chính quyền. Sau cùng ông nhận lời với ý nghĩ có thể lợi dụng hội này để thực hành cái chí đánh đổ chế độ thối nát của nhà chùa4. Ông kiến nghị hội lập nhà in; hội đồng ý và giao ông quản lý nhà in Đuốc Tuệ; ông đem máy in của mình vào đây làm việc. Thiều Chửu là một trong hai cây bút viết nhiều nhất trên cơ quan ngôn luận của hội là báo Đuốc Tuệ, nhằm tuyên truyền Phật giáo Nhân gian, phê phán tệ mê tín dị đoan trong hoạt động Phật sự. Biết ông liêm khiết, hội giao ông phụ trách tài chính của Ban Hưng công chùa Quán Sứ (1938-1942); qua đó ông có đóng góp lớn cho công trình này.

Tác phẩm cuối cùng Con đường học Phật ở thế kỷ thứ XX xuất bản năm 1952 – cuốn sách viết bằng máu và nước mắt như lời học giả Vũ Tuấn Sán2, thể hiện quan điểm của một phật tử chân chính, tiên tiến, yêu nước, kiên quyết vạch mặt một số tăng sĩ vùng địch chiếm mưu mô thần bí hóa đạo Phật, qua đó làm nhụt tinh thần kháng chiến của dân tộc.

Từ khi biết thuốc Nam, Thiều Chửu chưa bao giờ từ chối lời mời đi chữa bệnh cho bất kỳ ai nhờ vả. Năm 1936, ông cùng bà Cả Mọc (tức Hoàng Thị Uyển, chị ông Hoàng Đạo Thúy) đồng sáng lập Hội Tế Sinh và làm tổng thư ký của hội. Hoạt động quên mình cứu người của ông khi đi cứu giúp nạn nhân trận lụt năm Đinh Sửu, lập trại nuôi trẻ mồ côi, trại nuôi người già nghèo, nhất là hoạt động phát chẩn trong nạn đói 1945... đã mang lại cho ông uy tín rất cao trong xã hội. Chính vì chung một chí nguyện chịu khổ sở nhọc nhằn để giúp đỡ đồng bào, cả đời không ăn ngon mặc đẹp, không ai có gia đình riêng, nên chúng tôi được nhiều người tin lắm. Rất nghèo mà tiền bao nhiêu cũng có. Năm 1937, lụt tràn hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang. Ngoài việc góp sức cho cơ quan cứu tế, tôi cùng cụ Cả Mọc còn vận động đi lấy tiền lấy áo; rồi tôi cùng ông Hoàng Đạo Thúy, ông Trần Duy Hưng hằng ngày đem thuốc, tiền, quần áo đi tới từng nhà nạn nhân giúp cho đến khi họ sống được. Khắp hai huyện Quế Dương, Lang Tài, không còn sót mấy nhà mà chúng tôi không tới hàng bốn năm lượt, ròng rã ba tháng như thế cho đến lúc lúa chín.4 Phải chăng vì thế mà Hồ Chủ tịch từng mời ông làm bộ trưởng Bộ Cứu tế Xã hội trong Chính phủ Cách mạng lâm thời 1945? (nhưng ông khước từ với lý do để tiếp tục làm Phật sự)3.

Sau ngót 30 năm cầm bút, Thiều Chửu để lại 96 tác phẩm viết và dịch đã xuất bản2; đầu tiên là Phép nuôi con (1926). Nổi tiếng nhất có Tự điển Hán Việt xuất bản năm 1942, sau đó em gái ông tái bản hai lần ở Sài Gòn năm 1952 và 1954; tới nay đã in hàng chục lần, là một trong vài sách cùng loại được hoan nghênh nhất Những người Việt học Hán văn không thể không cúi đầu tri ân công trình văn hóa bất hủ này (lời thiền sư Lê Mạnh Thát)2. Năm 2003 một nhóm Việt kiều Pháp biên soạn lại thành Tự điển Hán Việt Thiều Chửu điện tử và phổ biến trên http://www.viethoc.org" target="_blank.

( http://www.nld.com.vn" target="_blank)

Mẫu Đơn
Nhị đẳng
Nhị đẳng
Bài viết: 261
Tham gia: 11:35, 24/12/09

TL: Có một vị Bồ Tát thật trên đời!

Gửi bài gửi bởi Mẫu Đơn » 11:30, 29/12/09

Các tác phẩm của Thiều Chửu để lại (theo http://www.quangduc.com/Danhnhanvn" target="_blank)

1. Phật học cương yếu.

2. Khóa Hư Kinh diễn giải.

3. Sự Tích Phật Tổ diễn ca.

4. Giải thích truyện Quan Âm Thị Kính

5. Con đường học Phật thế kỷ XX này.

6. Nhòm qua cửa Phật.

7. Cải tà qui chính.

8. Thế nào là Phật và Phật pháp.

9. Lục Tổ Đàn Kinh.

10. Khóa tụng hằng ngày.

11. Bốn mươi tám phép niệm Phật.

12. Vì sao tôi tin Phật Giáo ( dịch của B.Brongthon).

13. Kinh lễ sáu phương (dịch)

14. Kinh Di Giáo (dịch).

15. Kinh Di Đà (dịch).

16. Kinh Tứ Thập Nhị Chương ( dịch).

Mẫu Đơn
Nhị đẳng
Nhị đẳng
Bài viết: 261
Tham gia: 11:35, 24/12/09

TL: Có một vị Bồ Tát thật trên đời!

Gửi bài gửi bởi Mẫu Đơn » 11:38, 29/12/09

Sau đây là bài viết của Thượng tọa Thích Đồng Bổn nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Thiều Chửu
(theo http://www.thuvienhoasen.org/" target="_blank)


LÃNG ÐÃNG MỘT KHUẤT NGUYÊN Ở CỤ THIỀU CHỬU
Thích Ðồng Bổn

Khi viết về ông, tôi vẫn còn nguyên xúc động của lần đầu ra xứ Bắc tìm dấu tích về nhà trí thức Phật học này cho công trình biên khảo Chư tiền bối hữu công mà tôi đang thực hiện.Những mãng huyền thoại về cuộc đời của ông tôi được nghe qua nhiều người kể lại, mỗi nơi một ít, mỗi người thuật mỗi cách, đã gây cho tôi nhiều trăn trở, nghĩ suy và qua đó cảm nhận sâu sắc hơn về một nhân vật nhiều tài năng mà cũng đầy bất hạnh này. Nghĩ về ông nhân 100 ngày sinh, tôi muốn nói về chất “Sĩ” nơi ông được thể hiện qua năm khía cạnh:

Thiều Chửu : một “Nho Sĩ” mang chí hướng tải đạo hóa đời.

Vốn xuất thân từ một gia đình bần nông, hơn ai hết ông tất thấm thía cảnh nghèo khổ do bị địa chủ và thực dân áp bức bóc lột. Chính vì thế ông quyết tâm tự học chữ Hán nơi bà Nội của ông với ý nghĩ sẽ mang cái chữ giúp ích cho đờiù. Vốn là một nhà nho , ông tự học thêm các ngoại ngữ Anh, Pháp, Nhật để không bị lạc hậu và để tiếp thu các luồng tư tưởng của thời đại từ khắp nơi trên thế giớùi. Theo gương cha là cụ Cử Cầu – tức nhà Chí sĩ Giản Thạch trong phong trào Ðông kinh Nghĩa thục - ông trở thành một chiến sĩ trên mặt trận chống giặc mù chữ , cái đã làm cho dân ta không nhận thấy con đường sáng vượt qua đói nghèo và con đường cứu nước thoát khỏi cảnh nô lệ ngoại bang của thực dân đế quốc, cụ thể là việc ông cùng với các ông: Nguyễn văn Tố, Ðặng Thai Mai, Võ Nguyên Giáp, Phan Thanh, Trần Huy Liệu lập Hội Truyền bá Quốc ngữ hoạt động tại hội quán Trí Tri, phố Hàng Quạt, Hà Nội(1).

Sự nghiệp lớn nhất của Nho sĩ Nguyễn Hữu Kha là tác phẩm “Hán Việt tự điển”, một cuốn tự điển có giá trị ứng dụng xuyên suốt qua nhiều thời đại, là “sách tủ” của mọi tu sĩ Phật giáo trên đường nghiên cứu Tam tạng giáo điển để tu học. Ở lời nói đầu, ông đã viết lên thao thức của mình về Nho học: “Tôi tự nghĩ rằng Hán học thời nay đang ngày một mất dần, chỉ nhờ có học Phật thì may ra mới duy trì được ít nhiều; nếu dùng cách nào mà giúp cho người đọc được kinh biết được chữ, tức là cái nền tảng để xây đắp lại tòa lâu đài Nho giáo nguy nga tráng lệ”(2). Ngoài ra, ông còn những bài viết mang đậm tính cách bộc trực, khẳng khái của một Nho sĩ trong thực hiện sứ mệnh chống cái xấu, cái ác không khoan nhượng . Giớùi Tăng lữ đương thời không theå không suy ngẫm các bài thơ, bài viết cảnh tỉnh người tu Phật của ông, tiêu biểu là những lời lẽ thẳng mà đau trong quyển “Con đường học Phật thế kỷ 20”.

Dù là một Nho sĩ uyên bác nhưng ông không hề quên cội nguồn bần nông của mình nên suốt cuộc đời ông vẫn luôn gắn bó giữa sự nghiệp tri thức với công việc nông trang, nói gọn hơn là một kẻ sĩ làm nông, đó cũng là một nét đặt biệt nơi ông , ít có nơi nhiều nhà Nho khác.

Thiều Chửu : một trí thức “Cư Sĩ” Phật giáo.


Khi đến với đạo Phật, ông tự nhận mình “ cũng chỉ là một tín đồ tín ngưỡng triết lý mà thôi” trong lời Tự Bạch. Là một nhà Phật học uyên thâm, ông có nhiều hoạt động tỏa sáng trong giai đoạn chấn hưng Phật giáo Bắc kỳ với trên dưới 40 tác phẩm cho Phật giáo. Hàng loạt những dịch phẩm - tác phẩm về Kinh điển và Phật học có giá trị được ra mắt trong thời này, cùng nhiều bài viết sắc xảo đăng trên báo Ðuốc Tuệ, cơ quan ngôn luận của hội Phật giáo Bắc kỳ lúc bấy giờ. Sách và báo đều xuất bản từ nhà in do ông quản lý, mang đậm tính giáo dục và cải cách.

Trước sự suy thoái phẩm chất ở một bộ phận hàng ngũ Tăng đoàn của đạo Phật thời kỳ này, chỉ thiên về danh lợi chức quyền, đến sự xa hoa từ việc bày vẽ cúng bái mê tín mà xem nhẹ nhiệm vụ truyền bá chính pháp và trau giồi đạo đức giải thoát. Bối cảnh thực trạng này được ông miêu tả như sau trong sách “Con đường học Phật thế kỷ 20”:

“ Người tín ngưỡng Phật giáo nước ta hạng trên nhất chỉ tu lấy lợi một mình, mặc kệ đời chẳng thèm nhìn tới; hạng thứ nhì thì mượn cửa chùa làm chốn dung thân dễ dàng qua ngày; hạng dưới nữa thì lại lấy chùa chiền làm chỗ buôn bán kiếm chác, không từ một sự đê hạ, nhơ nhớp nào mà không dám làm”.
Qua ngòi bút của mình ông muốn làm cuộc cải cách nhằm cảnh tỉnh các tệ nạn trên, đem lại sự trong sáng cho giáo lý Phật đà bằng đề nghị thẳng thắn: “Tôi mong rằng các nhà tín ngưỡng Phật giáo nên chú ý vào hai sự này cho: 1 – Nên gánh vác lấy cái trách nhiệm chỉnh đốn Phật giáo, cải lương Phật giáo. 2 – Ðừng theo cái lối tín ngưỡng về mặt tiêu cực mà phải gắng sức tiến sang mặt tích cực ngay đi. Làm trái lại thì chẳng đợi người ta phá chùa đuổi sư mà chính Phật giáo tất phải đi dần đến diệt vong vậy.”(Sđd)

Ông cũng góp sức truyền bá trào lưu học Phật bằng chữ quốc ngữ ở thời kỳ mà sự mù chữ còn phổ cập khắp nhân dân, việc tụng niệm còn bằng phiên âm từ chữ Hán. Ông nói trong lời tựa bản dịch “Kinh A Di Ðà” rằng: “nhưng vì tính ta kém phần tự lập về tinh thần, cho nên cứ vùi đầu với chữ Hán, ít người dám phiên dịch sang tiếng ta. Ta chưa biết rằng những Kinh chữ Hán ta tụng niệm đó có phải là chính tiếng Phật nói đâu”

Chí hướng và tâm nguyện ấy còn thể hiện trong cách ông chọn Ðạo hiệu cho mình: Thiều Chửu và Lạc khổ. Thiều Chửu, có nghĩa là cái chổi quét bụi, ý muốn nói lên những tệ nạn kia chính là bụi dơ làm hoen ố hình ảnh trong sáng của đạo Phật, mà chính ông là cây chổi quét bụi ấy sẽ làm trong sáng giáo hội qua ngòi bút cải cách của mình.Bút danh Thiều Chửu còn một ý nữa, là trước khi sửa người thì phải trong sạch lấy mình, qua sự hàng ngày phải lau quét bụi trần tham nhiễm, đừng để gương lòng vẫn đục bởi phiền não vô minh che lấp , như bài kệ tỏ đạo của Ngài Thần Tú:(3)

Thân thị Bồ đề thọ
Tâm như minh cảnh đài
Thời thời thường phất thức
Vật sử nhạ trần ai

Tạm dịch :

Thân là cây Bồ đề
Tâm như đài gương sáng
Thường ngày hằng lau quét
Chớ cho dính bụi trần.

Sử dụng bút danh Lạc Khổ là để cảnh tỉnh chính mình và người trên bước đường tìm đến thường–lạc–ngã–tịnh. Lạc Khổ có nghĩa là vui trong khổ, tượng trưng cho pháp hạnh “thiểu dục–tri túc” trong giáo lý căn bản nhà Phật, nghĩa là ít muốn và biết đủ, thể hiện nơi bản thân ông đã sống trọn đời mình qua nếp sống giản dị, đạm bạc, trường trai mỗi ngày chỉ ăn một bữa đúng Ngọ, guốc mộc nâu sòng như ngươi chân quê để làm tấm gương mẫu mực sách tấn học trò của ông rằng, ngay trong hoàn cảnh khổ ấy hay thân phận khổ đau này, con người ta vẫn tìm thấy niềm hạnh phúc an lạc hơn hẳn mọi điều phù phiếm trên đời.

Ý nghĩa nội hàm của từ Lạc Khổ còn là giác ngộ cái khoå ở chỗ: chỉ có trải qua khổ đau (tức khổ đế), mới nhận thức được bản chất và nguyên nhân của khổ (tức tập đế) trong giáo lý căn bản cuûa đạo Phật là Tứ Diệu Ðế (4 chân lý Khổ-Tập-Diệt-Ðạo).Khi con nguời giác ngộ được chân lý của khổ đau, cũng chính là trực nhận sự an lạc vô biên trong giải thoát; cho nên, hạnh phúc hay đau khổ chính là trong nhận thức của mình thôi.

Thiều Chửu : người mang tấm lòng “Ðại Sĩ”.

Nhờ thấm nhuần tư tưởng nhà Phật từ thuở nhỏ, ông sớm bộc lộ lòng mẫn cảm thương người nghèo khổ khó khăn hơn mình. Cuộc đời ông đã trải qua bao cay đắng khổ cực từ thuở ấu thơ nên dễ đồng cảm với những số phận bất hạnh, như lời ông đã phát thệ rằng:

“ Ðời tôi hễ ai thiếu thốn cái gì muốn nhờ tôi, chưa hé miệng tôi đã vâng, có thì giúp, không thì vay giúp, nếu không giúp được thì lòng tôi đau khổ cũng như người không vay được. Tôi mà còn một bát gạo, ai đói hơn, tôi cũng nhường ngay thà tôi chịu nhịn, và chí tôi với sự nhịn hai ba bữa là thường lắm” (Tự Bạch của Thiều Chửu-Sđd)).

Lòng từ bi khiến ông phát tâm noi chí nguyện chư Bồ Tát giúp đời bằng cách gánh vác và chia sẻ bao nỗi bất hạnh của thời loạn ly, như những việc: chủ trương lập hội Tế sinh nuôi trẻ bị mồ côi; đứng ra lo việc chôn cất cho hàng trăm người bị chết vì nạn đói kém; tổ chức các lớp học cho trẻ bị lạc mất cha mẹ vì chiến cuộc; lập nhà dưỡng lão, nghĩa trang Tế độ và không nề khó khăn gian khổ đưa các em đi tản cư lánh giặc ra vùng tự do v.v. . . Ông còn dạy người làm thuốc Ðông y, tự tay chữa bệnh cho bất cứ ai cần đến không nề hà công sức, còn tổ chức cày cấy ruộng nương, trồng trọt khoai sắn để tự túc kinh tế nuôi dưỡng các em đến trưởng thành.Các việc làm ấy ông xem là sự nghiệp cả đời ông , như ông đã viết tiếp trong lời Tự bạch: “Sau đó, tôi không hề nghĩ đến cái đời riêng của tôi nữa; người ta cho là tôi tin đạo Phật mà không lập gia đình, có biết đâu uẩn khúc của tôi từ thuở còn thơ dại”.

Ông quả là một bậc Ðại sĩ giữa đời thường, một tâm hồn nhân ái giữa cuộc chiến tranh máu lửa của nhân dân để giành chủ quyền đất nước.

Thiều Chửu : môt nhà “Chí Sĩ” yêu nước.


Hun đúc bởi lòng yêu nước thương nòi, chí căm thù giặc Tây và truyền thống cách mạng của gia đình ( cha ông bị giặc Pháp đày ra Côn Ðảo vì tham gia phong trào kháng Pháp, và những người thân trong gia đình của ông đã chết vì chiến tranh), ông coi việc tận trung tận hiếu vì dân là nghĩa vụ thiêng liêng, như lời ghi ở đầu sách “Con đường học Phật ở thế kỷ 20”: “Phải tận hiếu với nhân dân, nhân dân là cha mẹ bao kiếp, là chư Phật vị lai”. Ta thấy rõ tâm trạng thời trai trẻ của ông trước nỗi đau nước mất nhà tan, lòng căm thù giặc Pháp và bè lũ tai sai đến xương tủy qua những câu thơ đề trên vách lăng của tên Việt gian Lê Hoan(4):

“Thanh thần điếu cửu nguyên
Chủng chủng u tình huyên
Thế thái cạnh phú quý
Nhân tình xu ngân tiên
Công cừu ngạch bái thượng
Nghĩa vụ phóng tâm biên”.
Bản dịch của Nguyễn Hải Hoành :
Tinh mơ qua bãi tha ma,
Vong hồn bao kiếp kêu la vang trời.
Bon chen phú quý thói đời,
Lòng người mê mẫn hướng nơi đồng tiền.
Thù chung: trên trán, đưa lên,
Nghĩa vụ: canh cánh không quên trong lòng”.

Ông đã chọn vị trí chiến đấu ở hậu phương qua sứ mệnh giáo dục trẻ em và tăng gia sản xuất, đem tri thức của mình giúp ích cho địa phương ở vùng kháng chiến để góp phần vào sự nghiệp cách mạng giải phóng quê hương khỏi ách thống trị của thực dân Pháp. Niềm tin cách mạng tất thắng cộng với tín ngưỡng đạo Phật nơi tâm hồn được ông cảm tác qua bài thơ:

Phen này cắt tóc đi tu,
Tụng kinh Ðộc lập, ở chùa Duy Tân
Ðêm ngày luống những ân cần
Cầu cho ích quốc lợi dân mới là
Cầu cho nước Việt Nam ta
Khắp Trung Nam Bắc một nhà vui chung
Toàn dân kháng chiến thành công
Tự do Hạnh phúc vô cùng vô song.
(Vô Ðề – 1947)

Sự khẳng khái của một Chí sĩ được ông thể hiện qua bài viết cảnh cáo những người Phật giáo làm tai sai cho giặc vào cuối năm 1952(5): “ Nội dung bài ấy có hai phần, phần 1 chỉ rõ tinh thần cách mạng của Phật giáo thuyền tông; phần 2 chỉ rõ chỗ suy kém của Mỹ, và chỉ cho đường về với kháng chiến”. Ông quan niệm, thà khổ sở thiếu thốn trăm bề nơi vùng tự do của kháng chiến, còn hơn sống nhục nơi chốn phồn hoa đô hội do giặc chiếm đóng; quyết liệt hơn, ông dứt khoát không chịu nhận bất kỳ sự trợ giúp nào bắt nguồn từ nội thành gửi ra, khi được Hòa thượng Tố Liên gửi biếu 6 lượng vàng, ông răn dạy học trò của mình rằng:

“Chúng ta phải tự lực cánh sinh; người tư do không ăn xin người mất tự do. Vàng của ai cho phải trả lại, dứt khoát tôi không dùng” (Tự Bạch của Thiều Chửu-Sđd).

Ðó phải chăng chính là phẩm chất cao thượng của người Chí sĩ ở nơi ông, không còn gì phải bàn luận thêm vậy.

Thiều Chửu :một nhân cách rạng danh“Tiết Sĩ”.

Trong chính sách xác định thành phần cải tạo ruộng đất năm 1954, do trình độ nhận thức yếu kém của người thực thi và do một số quần chúng dễ bị chi phối bởi các lời tuyên truyền của những phần tử cơ hội rằng những người trí thức đều gốc là thành phần tư sản bóc lột ... ông đã trở thành nạn nhân của một oan án . Là một kẻ sĩ, ông đã chọn cái chết để bày tỏ tiết tháo của mình. Tôi được nghe một vị Nhân sĩ giáo phẩm kể lại rằng: sau khi viết thư để lại và dặn dò cùng các học trò của mình, ông đã kết thúc cuộc đời bằng cách thắp hương tạ lễ bốn phương bên bờ sông, sau đó tự quấn chăn vào mình nhảy xuống giòng sông ở đoạn chảy siết để tự trầm .Ðấy cũng là cái dũng khí lớn nhất mà ông đã làm được để giữ gìn phẩm giá ở một người trí thức, để làm một bài học thức tỉnh những ai còn chưa thấu hiểu đạo lý tình người, để không một ai có thể tùy tiện bóp méo sự thật về ông.

Lấy cái chết để thể hiện hiện tấm lòng trong sạch của mình, mà không hề oán hận người nào, không muốn đổ lỗi cho ai, hoặc bất mãn về đường lối chính sách; trước sau ông vẫn một lòng tin tưởng vào sự nghiệp cách mạng do chính phủ lãnh đạo, ấy là sự tuẫn tiết của tấm lòng trung kiên, của niềm tin đạo nghĩa vẫn có ở đời, và vì ông vững tin vào thế hệ học trò cùng hậu duệ của mình vẫn sẽ tiếp bước đi theo con đường đúng đắn mà ông đã dạy dỗ ấy, tất sẽ có ngày trả lại công bằng và danh tiết cho mình mai sau.

* * *

Nghĩ về ông, tôi không khỏi bùi ngùi cho thân phận kẻ sĩ đã ỡ vào một giai đoạn lịch sử bi tráng của dân tộc trong thời kỳ đầu giành lại độc lập từ tay ngoại bang. Những lời kể về việc tử tiết của ông gây ấn tượng mạnh mẽ nơi tôi, bởi từ trước tới nay tôi chưa hề nghe thấy sự tuẫn tiết nào đặc biệt và chấn động đến thế. Chính vì thế tôi lặn lội tìm hiểu biên khảo về ông ở thập niên 80 – 90 để viết tiểu sử của ông .Ông tự cho trường hợp của ông là cái án “mạc tu hữu” mà Nhạc Phi đời Ðường phải gánh chịu (6) nhưng tôi nghĩ cái chết của ông phảng phất sự tuẫn tiết của Nhà nho Khuất Nguyên nước Sở- thời Chiến quốc, cũng đã nhảy xuống giòng sông Mịch La tự trầm, sau khi để lại câu nói bất hũ : “thế gian này tất cả đều say, chỉ có mình ta là tỉnh”.

Những điều luận bàn quanh năm chất Sĩ : Nho sĩ, Cư sĩ, Ðại sĩ, Chí sĩ và Tiết sĩ của Nguyễn Hữu Kha để khẳng định rằng, Thiều Chửu đối với đạo là một Phật tử có đạo đức mẫu mực; đối với đời là một Nhân sĩ có nhân cách cao đẹp, Cuộc sống và cái chết của ông đã để lại những mến tiếc vô cùng trong lòng những thức giả đương thời và hậu học ngày nay.

Mùa Xuân năm Nhâm Ngọ ở Sài Gòn, tháng 3 - 2002
Thích Ðồng Bổn


-------------------
Ghi chú:
(1)Theo “Cư sĩ Thiều Chửu – Nguyễn Hữu Kha”, Trần Việt Quang và Nguyễn Hải Trừng, Tài liệu lưu hành nội bộ.
(2)Tự điển Hán Việt, bản in lần thứ nhất của NXB Ðuốc Tuệ, 1942
(3)Phật học Phổ thông khóa thứ V, Thiền tôn, tr.202,Thành hội PG Tp.HCM xb, 1997
(4)Lê Hoan, kẻ đã làm tay sai cho giặc, chỉ huy đánh úp ông Hoàng Hoa Thám –tức cụ Ðề Thám, lãnh đạo khởi nghĩa Yên Thế(Bắc Giang) năm 1913, ông bị tay sai thực dân Pháp ám hại.
(5)Bài viết này ông gửi cho anh Ðường tìm cách phổ biến trong nội thành, sau anh đã bị giặc bắt. Tự Bạch của Thiều Chửu, tr.14. Tài liệu lưu hành nội bộ.
(6)Lời ông viết ở những dòng cuối cùng của bản Tự Bạch–Sđd, nhưng có chỗ cần đính chính là Nhạc Phi ở đời Nam Tống chứ không phải đời Ðường. Tuy nhiên, người viết vẫn trích dẫn nguyên văn.

cvd
Tứ đẳng
Tứ đẳng
Bài viết: 954
Tham gia: 14:33, 10/07/09

TL: Có một vị Bồ Tát thật trên đời!

Gửi bài gửi bởi cvd » 12:19, 29/12/09

Tôi từng nhìn thấy cái tên Thiều Chửu ở đâu đó và lúc ấy cảm thấy hơi lạ lùng về cái tên này nhưng đã bỏ qua, không tìm hiểu. Nay nhờ Mẫu Đơn mới biết được một nhân cách lớn như vậy. Rất cảm ơn bạn!

Hình đại diện của thành viên
nguyenthanhquyen
Hội viên online
Hội viên online
Bài viết: 147
Tham gia: 16:31, 08/04/10
Đến từ: Hà Nội

TL: Có một vị Bồ Tát thật trên đời!

Gửi bài gửi bởi nguyenthanhquyen » 15:24, 09/04/10

xúc động qá....đã sử dụng từ điển Thiều CHửu bao lâu nay, xét đi xét lại thì vẫn thấy không loại nào hay bằng, vậy mà hôm nay đọc bài này rưng rưng nước mắt về một tấm lòng cao cả.....
cảm ơn Mẫu Đơn!! :)

Trả lời bài viết

Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: 30 khách.