Các bước luận đoán lá số Tử vi (sưu tầm)

Hỏi đáp, luận giải về tử vi
Hình đại diện của thành viên
Tây Đô đạo sĩ
Bát đẳng
Bát đẳng
Bài viết: 7976
Tham gia: 19:37, 19/10/10
Đến từ: Tây Đô
Liên hệ:

TL: Các bước luận đoán lá số Tử vi (sưu tầm)

Gửi bài gửi bởi Tây Đô đạo sĩ » 14:56, 02/03/12


4) Điền trạch cung


Bốn là bàn đến cung Điền,
Phủ, Vi đóng đấy, Tài Điền vượng thay,
Vũ, Cơ tài sản cũng hay,
Song hiềm hoán dịch ngày này nhiều phen,
Âm , Dương miếu ấy đa điền,
Nhược bằng ngộ hãm vào miền bằng chân
Thiên Đồng hậu dị, tiêu nan,
Tham Lang tổ nghiệp phá tan lại thành
Cự Môn tổ nghiệp tan tành,
Sinh ra đổi chác sau rành được yên
Sát sinh bỗng chốc mà lên,
Nhược phùng hãm địa, bình yên thường thường,
Phá Quân của khéo dở dang,
Nhược bằng ngộ hãm là phường khó khăn.
Tướng , Lương, Tả, Hữu khoa văn.
Việt , Khôi, Quyền , Lộc, Mã gần Trường sinh,
Điền viên đế vượng tậu tành,
Hỏa, Linh, Không, Kiếp, Đà, Kình lục tinh,
Nhị Hao, Kiếp Sát, Phục Binh,
Không Vong, Tang, Tứ, Phù tinh vô điền,

5) Quan lộc cung

Năm là quan lộc đoán ngay,
Thái Dương, Xương, Khúc ở đây cung này,
Điện rồng chầu trực đêm ngày,
Đoán rằng số ấy tốt thay lạ thường,
Việt, Khôi, Tả, Hữu, Cơ, Lương,
Khoa, Quyền, Tử, Phủ họp cùng Trường Sinh,
Tướng, Đồng, Lộc, Mã,Vũ tinh
Đều là cát tú được mình hiển vinh.
Âm, Dương, Quyền, Lộc được rành,
Như đành hãm địa ắt thành lại hao,
Liêm Trinh vũ chức ,quyền cao,
Như bằng ngộ hãm,khỏi nào hình danh,
Tham Lang mà gặp Hỏa ,Linh,
Miếu thì phú quý,hãm bình mà thôi,
Sát, Cự tý ngọ , ở ngôi,
Vượng thì vũ chức , hãm thời hình thương,
Phá Quân lao khổ trăm đường,
Nhược ngồi Tý, Ngọ tài thường vượng thay,
Tham Lang, Xương, Khúc ngày rày
Ngộ cung tỵ hợi quan này, làm ru,
Liêm , Tham, Đà, Nhận phải lo
Phải mang dan díu , quanh co bận mình
Phù , Tang, Không, Kiếp ,Hỏa, Linh
Khốc, Hư, Đà, Nhận, Kiếp, Kình Nhị Hao,
Phục Binh , Phá Tú xúm vào
Đoán rằng quyền lộc làm sao cũng hèn

6) Nô Bộc Cung

Sáu là nô bộc đoán tường
Tử , Phủ, Tả, Hữu, Âm, Dương, Lương, Đồng
Việt , Khôi, Tam Hóa tương phùng
Cáo, Loan, Cơ, Mã lại cùng Tướng tinh,
Quý, Quang, Xương, Khúc cũng lành
Vũ Tinh mà đóng rành rành bản cung
No thì nó ở hầu ông
Đói thì nó bước chẳng mong nỗi gì
Liêm Trinh kia nó càng ghê
Làm ơn nên oán bấc chì mỉa mai
Tham Lang vì nó hao tài
Cự Môn báo oán những lời thị phi
Sát thì sinh sự thị phi

7) Thiên Di Cung

Bảy là bàn đến Thiên Di
Lộc Tồn, Hóa Lộc tốt thì hòa hai
Vũ, Lương, cự phú chẳng sai.
Khúc, Xương, Tử, Phủ, Việt, Khôi, Khoa, Quyền,
Âm Dương, Tả, Hữu rất hiền,
Cùng là Đồng, Tướng gần miền quý nhân,
Thiên Cơ lẩn thẩn, khốn thân,
Nhược bằng ngộ cát, mười phần tốt thay,
Liêm Trinh nội trở, ngoại bay,
Đi thì cũng lợi, mới tày Tham Lang.
Lại thêm dâm dục , hoang tàn,
Vũ Tinh xuất ngoại thường thường được yên
Cự Môn khẩu thiệt đảo điên,
Nhị Phù, Phá, Tú cùng miền Thiên Di,
Đoán rằng lộ thượng, mai thi,
Phá Quân, Thất Sát ắt thì chẳng yên
Tham Lang, Hóa Kỵ hợp miền,
Quán rằng lộ tử, chẳng tuyền được đâu
Cự Môn, Linh,Hỏa xung nhau
Tử ư đạo mộ ra mầu xo ro,
Liêm phùng Quan Phủ, Quan Phù,
Ấy là tử nghiệp chẳng hòa được đâu
Kìa như đạo lộ phải âu,
Bởi Liêm, Sát, Phá vào hầu Thiên Di
Kìa ai ký ngụ, phong tư ( đời sương gió)
Bởi chưng Thất Sát, Nhị Phù, Kình Dương
Tứ Sát đóng chính cung tường,
Ách nguy thêm lại hại đường tổ tông
Vũ , Liêm chẳng khá đồng cung
Luận rằng số ấy bần cùng đi qua
Hỏa, Linh, Không, Kiếp,Dương, Đà,
Tham, Hình, Hóa Kỵ cùng là Khốc Hư
Phá Quân phương ấy phải lo,
Thiên Di cung ấy đoán cho kỹ càng.

8) Tật Ách cung

Tám là Tật Ách chẳng âu,
Âm, Dương phản bội làm màu bất minh,
Mệnh cung lại có Không tinh
Nhãn manh mục tật, rành rành phải mang,
Phá , Liêm, Hình, Kỵ, Đà, Dương,
Đã đau bên mắt, lại càng bệnh điên
Khúc , Xương, Tả, Hữu vào miền.
Việt, Khôi, Tử, Phủ, Khoa , Quyền, Đồng, Lương
Lộc Tồn, Hóa Lộc một phương.
Ốm thì gặp thuốc thang, sợ gì,
Thiên Cơ phải chứng thấp tê.
Nhược bằng gia Sát mặt thì vết ngan,
Phong đàm bệnh ấy liền liền,
Bởi sao Cơ ,Vũ đóng miền Ách phương
Nhược bằng gia Sát trĩ sang.
Thái Âm đau bụng, Thái Dương buốt đầu,
Gia Đà, Kỵ, Sát cũng rầu
Đoán rằng mục tật, ấy hầu phải đau.
Phá Quân Khí huyết bất điều,
Đồng , Lương hàn , nhiệt là điều phải lo.
Tướng Tinh đau ở bì-phu,
Cự, Liêm, Nhật, Nguyệt , hình thù cơ nghinh
Đà La, Dương Nhận ít yên,
Đâu chân nhức mắt, chẳng hiền được đâu,
Dương, Đà, Phá, Kỵ mắt đau,
Bởi đường sao ấy gặp hầu Tham Lang.
Sát Tinh thấp khí yếu đau.
Tứ Sát có bệnh bởi hầu Sát gia,
Tham Lang tật ách xông pha,
Lưng, chân có bệnh chẳng hòa được chăng,
Cự Môn mặt vết rõ ràng,
Chứ chi đới tật, xấu chàng hổ ai,
Kỵ, Hình đau mắt chẳng sai,
Dương, Đà, Linh, Hỏa cùng ngồi một phương.
Mặt kia có vết rõ ràng,
Lại thêm bệnh trĩ thường thường phải e.

Nguồn:Một Số Tạp Chí Khoa Học Huyền Bí Trước Những Năm Giải Phóng

Hình đại diện của thành viên
Tây Đô đạo sĩ
Bát đẳng
Bát đẳng
Bài viết: 7976
Tham gia: 19:37, 19/10/10
Đến từ: Tây Đô
Liên hệ:

TL: Các bước luận đoán lá số Tử vi (sưu tầm)

Gửi bài gửi bởi Tây Đô đạo sĩ » 15:09, 02/03/12


Đoán tiểu hạn phải linh động


Những trường hợp : THIÊN HÌNH, THIÊN MÃ VÀ ĐÀO HỒNG NHẬP HẠN

Như các bạn đã biết việc giải đoán tiểu hạn có thể nói là rắc rối, phức tạp nhất. Tôi chỉ xin khép lại giới hạn từ "linh động" trong chủ đề này mà thôi, thực ra việc đoán Tử-vi thì rất mênh mông vô cùng. Vì vậy hôm nay tôi thiết nghĩ không phải là vô ích khi trở lại vấn đề nêu trên. Qua một số cách giải đoán về tiểu hạn về Tử-Vi, tôi có một nhận xét chung là họ đều câu nệ ý nghĩa nguyên thủy của các sao nhập hạn quá mức đến nỗi mắc phải những sai lầm nặng nề trong việc giải đoán vận hạn.

Ví dụ như khi thấy Thiên Hình nhập hạn thì vội cho là sẽ bị thương tích, mổ cắt, giải phẩu..... ; thấy Thiên Mã (nhất là thêm Lưu Thiên Mã) là chắc bẩm sẽ có sự thay đổi, thuyên chuyển công tác ...; thấy Đào Hồng thì liền nghĩ tới vấn đề tình ái, ngoại tình hoặc sinh con v.v.... Tôi rất đồng ý là ta cần phải học thuộc đặc tính của các sao, nhưng khi giải đoán, nhất là về tiểu hạn, ta cần phải uyển chuyển và linh động chứ không thể áp dụng một cách máy móc được.

Như khi thấy trời mây đen u ám, sấm chớp ầm ầm, ta đừng vội quả quyết (!?) là sẽ mưa lớn vì thực ra có khi chẳng hề có một giọt mưa nào, do gió thay đổi chiều chẳng hạn ... Vậy đặc tính của các sao có thể ví với hiện tượng về thời tiết nghĩa là diễn tiến hoặc kết quả dễ bị thay đổi, và nhiều trường hợp đặc tính của các sao bị biến đổi đến mức ta không còn liên tưởng nổi tới ý nghĩa riêng của chúng nữa.

Bây giờ, để quý bạn đọc dễ hiểu tôi thấy không có cách gì khác hơn là nêu ra dưới đây nhiều trường hợp ứng dụng, chứ không thể nào đưa ra một số nguyên tắc hoặc phương phương-thức để giải đoán, vì phạm vi đề tài này rất mông lung, rộng lớn mà chỉ có nhiều năm kinh nghiệm và thực tập mới có thể thành thạo được.

1- THIÊN HÌNH NHẬP HẠN

Có một độc giả tâm sự với tôi rằng ông rât sợ Thiên Hình nhập hạn vì cứ năm nào gặp nó là mang thương tích liền (như tông xe, xe đụng mình hay bị máy cắt, hàn .... trong cơ khí làm tổn thương các bộ phận trên thân thể người, hay trong chiến tranh phải giẫm phải bom, mìn v.v....), đến nỗi bây giờ trên người ông đầy chiến thương (!), và ông khen lấy khen để khoa Tử-vi thật là vi diệu và ứng nghiệm. Tuy nhiên ông có nêu ra một thắc mắc là không hiểu tại sao anh của ông ta gặp hạn Thiên Hình chẳng bao giờ bị một vết trầy da mà lại còn hạnh thông mới kỳ lạ chứ ! Ông này có gửi cả hai lá số cho tôi để nhờ giải đáp.

Điểm ông thắc mắc kể ra chẳng có khó hiểu, vì ông không chịu phối hợp với Mệnh, Thân và một vài yếu tố khác. Ông ta bị thương lu bù là phải vì Mệnh của ông có Thất Sát hội Kình Dương cư Ngọ mà Đại Hạn lại có Hỏa Linh, Không Kiếp cho nên Tiểu hạn mà có Thiên Hình (dù là bàng chiếu) thì khó tránh được tai nạn. Còn anh ông ta là một nhà Điêu khắc sư (do ông cho biết) cho nên gặp hạn gặp Thiên Hình lại tốt vì Thiên Hình ứng vào : búa, đục, dao, kéo .... tức là đồ nghề chuyên môn để tạo nên những pho tượng hoành tráng, tuyệt mỹ, nhất là hạn lại thêm Xương Khúc, Hỷ Thần và xa lánh được những hung sát tinh (ở Đại Hạn cũng như ở Tiểu hạn), như thế làm sao chẳng hạnh thông.

Nếu anh của ông không gặp hạn có Thiên Hình, đương nhiên là yếu đi vì đã là điêu khắc sư mà lại thiếu đồ nghề, dụng cụ thì làm sao thực hiện các tác phẩm của mình. Cũng như trường hợp các nhà Luật (như : Thẩm phán, Bào chữa, Luật Sư .... ) nếu gặp hạn có Thiên Hình thường thêm uy quyền vì Thiên Hình chủ về cứu xét, thanh tra, kiểm tra ... miễn là không gặp nhiều hung sát tinh làm thay đổi sự ứng dụng của Thiên Hình.

Nhưng, những người nào có mạng hay bị tù tội (như có Liêm-Tham ở Tỵ- Hợi hội hung sát tinh) mà gặp hạn có Thiên Hình, thì rất đáng ngại, vì Hình lúc đó chủ về cây bút để viết thành bản án, nhất là khi có thêm Xương-Khúc tượng trưng cho văn kiện, giấy tờ.

Những trường hợp trên đây tương đối dễ tìm hiểu, nhưng có trường hợp rất khó giải đoán, như hạn gặp đủ cả Hỏa Linh, Hình, Không Kiếp, Kình Đà, Phục ... ai mà chẳng e ngại tai ương xảy ra. Thế mà có khi lại tốt đẹp nếu các sao này nhập hạn ở cung Điền-Trạch mà đương số là một điền chủ vì các sao này ứng vào các nông cụ, tá điền, máy cày ... khiến cho ruộng đất trở nên phì nhiêu, mùa màng tốt đẹp, nhưng nếu chẳng may các sao trên nhập hạn cung Giải Ách thì đương số bất luận là ai cũng dễ chết phi mạng.

Riêng tôi năm nay có Đại hạn-Tiểu Hạn trùng phùng có Thiên Phủ hội Thiên Hình, Tứ linh, Xương Khúc, Diêu Y, Tứớng Ấn, Quan Phúc .. tại cung Thê. Mạng đồng hành với Chính tinh là Thiên Phủ, Thiên Hình và không có Lục sát tinh hội chiếu, nên ứng vào một khía cạnh hơi đặc biệt, xin kể cho các bạn biết là tham gia và gửi bài vào các diễn đàn học thuật, phải chăng Thiên Hình ngày nay ứng vào máy vi tính, Internet, các phương tiện truyền thông tin ...

2- THIÊN MÃ NHẬP HẠN

Về sao Thiên Mã cũng vậy, đa số các bạn cứ nghĩ rằng là cứ có sao này nhập hạn mà lại gặp thêm cả Thiên Mã lưu niên thì 100 % là có sự thay đổi nhà cửa, công danh ... Tin tưởng như thế cũng không phải là hồ đồ vì thực ra có rất nhiều trường hợp ứng nghiệm, nhưng muốn cho chính xác hơn ta vẫn phải phối hợp với nhiều yếu tố khác. Nếu không phối hợp thì vô hình trung ta đã giải đoán theo kiểu "serie", không khác gì chỉ căn cứ vào năm sinh như các cẩm nang hàng chợ Tử-vi hàng năm bày bán trên thị trường.

Thực tế, ví dụ chẳng hạn như năm nay là năm Ất Mão , Lưu Thiên Mã ở cung Tỵ gây ảnh hưởng thay đổi cho rất nhiều tuổi, như tuổi Dần, Hợi (Nam), Sửu (Nữ) v.v... là những tuổi Tiểu Hạn năm Mão ở cung Tỵ, đó là chưa kể đến nhiều tuổi khác cũng gặp Lưu Thiên Mã chiếu. Nếu Tiểu hạn ở cung Hợi, Dậu, Sửu, Thân. Nhưng trên thực tế chắc chắn là ta không thể thấy các tuổi đó đều gặp sự thay đổi, ngay cả các tuổi Tiểu Hạn đi đến cung Tỵ. Đặt vấn đề như thế không có nghĩa là tôi phủ nhận ý nghĩa nguyên thủy của sao Thiên Mã, cố định cũng như lưu niên, nhưng tôi muốn nói rằng, ý nghĩa đó luôn luôn bị biến đổi dưới nhiều hình thức hoặc có trạng thái khiến cho ta nhầm lẫn, mặc dầu sau khi sự việc xảy ra ta vẫn thấy ý nghĩa của sao Thiên Mã phần nào. Ở đây tôi không bàn đến cách giải đoán bình thường của sao Thiên Mã (nhất là lưu Thiên Mã) như các sách Tử-vi đã nêu ra. Tôi chỉ muốn đề cập tới một số trường hợp mà " hiện tượng" Thiên Mã đã chuyển biến hoàn toàn :

- Tôi có được xem một lá số Tiểu hạn đi tới cung Thiên Di gặp đủ các sao Thiên Mã cố định lẫn lưu niên và còn thêm cả Thiên Đồng. Như thế ai chẳng chắc đoán là đương số di chuyển không xa thì gần, nhưng suốt cả năm không thấy đương số đi đâu cả mà cũng chẳng hề có chuyện thay đổi việc làm, chức vụ hoặc nhà cửa ... Sau khi thấy không ứng nghiệm, tôi liền nghiên cứu lại lá số đó và vẫn không hiểu nổi tại sao ?. Mặc dầu cũng cố tìm ra được một yếu tố là Mạng của đương số thuộc loại " ru rú xó nhà " (có Thiên Phủ hội Long-Phượng, Thai-Tọa đồng cung) mà Đại hạn không có môi trường gì thuận lợi cho việc di chuyển, nhưng riêng về Tiểu Hạn tôi vẫn ấm ức không biết Thiên Mã đã ứng vào khía cạnh nào. Về sau tình cờ đương số cho to tôi biết là người anh ruột của đương số ở ngoại quốc học mới về sau khi tốt nghiệp bậc Đại Học bên Tây. Lúc đó tôi mới vỡ lẽ ra và thấy ý nghĩa của sao Thiên Mã vẫn ứng nghiệm, nhưng đã thay đổi hiện tượng quá nhiều...

Thường thường Tiểu hạn đến cung Tài-Bạch gặp Lộc-Mã lưu niên ai mà chẳng nghĩ tới chuyện di chuyển vì kinh doanh, buôn bán hoặc ít ra công danh cũng thay đổi không nhiều thì ít, nhưng trên thực tế tôi đã gặp nhiều lá số với Tiểu hạn như vậy mà chẳng hề có việc di chuyển hay thay đổi gì. Trường hợp này tuy khác thường nhưng không khó giải đoán lắm, vì tôi đã gặp khá nhiều lá số có "lộ" ra chiều hướng đó. Quý bạn chỉ cần cân nhắc xem đương số có thuộc loại người xoay xở, bôn ba, bon chen để làm giàu hay không ? (khía cạnh này chắc các bạn cũng tím ra được) rồi coi tiếp Đại hạn có khuynh hướng buôn bán hay không ? Nếu đều không cả, thì gặp Tiểu hạn như trên chẳng thể có di chuyển hoặc thay đổi gì về sự nghiệp. Và khi đó thường thường Thiên Mã ứng về Tài Lộc bất ngờ , như ở trên trời rớt xuống, nghĩa là có thể trúng số lớn hoặc được ai cho một món tiền đáng kể nhất là khi có thêm Song-Hỷ và Không Kiếp đắc địa tại Tỵ hoặc Hợi, hoặc được Đại Hạn có Khôi Việt, Quang Quý, Quan Phúc chủ về môi trường thuận lợi cho tiền bạc vào bất ngờ một cách mau chóng và lợi lạc. Trường hợp trên Thiên Mã không khác gì " Sứ giả " tài lộc đem tiền lại cho mình và như thế ý nghĩa sao đó vẫn còn tồn tại.

Sau hết tôi xin nêu ra trường hợp Tiểu hạn đi đến cung Quan Lộc có đủ cả hai sao Thiên Mã cố định và lưu niên rồi lại còn có cả Thiên Không và Thiên Đồng hợp chiếu, nghĩa là gồm đủ các yếu tố thay đổi cho công danh, chức vụ (vì Tiểu hạn ở cung Quan Lộc)

Thế mà vẫn có một vài "ca" chẳng hề thay đổi mới nhức đầu chứ ! Đó là trường hợp lá số có cung Quan Lộc quá bền vững, lâu dài (như có Long Phượng hội Khoa, Quyền, Lộc, Thai Tọa v.v...) đồng thời Mạng không đồng hành với các sao có đặc tính thay đổi tọa thủ tại cung (tức là Thiên Mã trong trường hợp này) và cung Mệnh không có yếu tố hay bị thay đổi hoặc thích thay đổi khiến cho Thiên Mã phải chuyển hướng ứng nghiệm, nghĩa là làm cho những người đồng nghiệp của mình (trên cũng như dưới) phải bị thay đổi, sa thải hoặc thuyên chuyển (ngày nay gọi là sáo trộn nhân sự tại cơ quan), vì thực ra các sao ở cung Quan Lộc đâu có phải chỉ ứng vào cá nhân mình mà còn chi phối cả những người cùng làm xung quanh mình. Do đó, gặp trường hợp trên nếu quý bạn cứ quyết đoán là đương số thay đổi công dạnh, chức vụ, sự nghiệp... thì có phải là " hố " nặng nề không ?.

3- ĐÀO, HỒNG NHẬP HẠN

Sau hai sao Thiên Hình và Thiên Mã, tôi cần bàn thêm về các sao Đào Hồng nhập hạn thường là một đề tài sôi nổi và gay cấn cho những người mới nghiên cứu Tử-vi, Nam cũng như Nữ. Thực tế, khi thấy Đào Hồng nhập hạn, người thì cho rằng ứng vào thai nghén, sinh đẻ, người thì nghi ngờ sẽ có chuyện tình ái, vương lụy ... kẻ thì mừng là sẽ gặp tin vui, may mắn bất ngờ v.v... Đúng ra những điều trên bình thường vẫn xảy ra nhưng khi gặp những trường hợp phức tạp, ý nghĩa này sẽ không còn ứng nghiệm nữa.

Ví dụ như có người hạn gặp Đào Hồng chẳng những không được may mắn mà còn bị lường gạt, mưu hại do các sao Hóa Kỵ, Phục Binh, Không Kiếp, Tả Hữu gây ra, nhất là khi tiểu hạn đi đến cung Nô Bộc, Thiên Di, Quan Lộc hoặc Tài Bạch.

Còn về chuyện vương lụy, tình ái ... cũng vậy. Nhiều khi Đào Hồng hội đủ cả Song Hỷ, Thai, Mộc Dục, Hoa Cái nhập hạn mà suốt năm chẳng thấy có gì liên hệ đến phương diện tình cảm, chứ chưa nói tới tình ái. Đó là trường hợp cung Mệnh của đương số đứng đắn , đàng hoàng, chí thú làm ăn mà Tiểu Hạn đi đến cung Điền Trạch, vì khi đó các sao " lả lướt " mất môi trường hoạt động và chuyển sang ý nghĩa tô điểm, sửa sang nhà cửa cho sáng sủa, đẹp đẽ hơn hoặc thay đổi những đồ cũ và sắm bàn ghế, giường tủ, đồ đạc, xe mới ....

Viết bài hôm nay, tôi không dám có chủ đích chỉ dẫn quý bạn giải đoán cho thật chính xác Tiểu Hạn vì khía cạnh này rất mênh mông và khó khăn mà chính tôi nhiều khi cũng điên đầu không sao tìm ra được những điểm sai lầm hoặc không ứng nghiệm. Tôi nêu ra những trường hợp kể trên chỉ cốt giúp quý bạn có một ý niệm tổng quát về ý nghĩa linh động của các sao Tử-Vi ; nhất là về Tiểu Hạn để tránh được phần nào thất vọng khi gặp những lá số rắc rối, phức tạp hoặc mơ hồ, dễ khiến chúng ta lầm lẫn.

Nguồn:Một Số Tạp Chí Khoa Học Huyền Bí Trước Những Năm Giải Phóng

Hình đại diện của thành viên
Tây Đô đạo sĩ
Bát đẳng
Bát đẳng
Bài viết: 7976
Tham gia: 19:37, 19/10/10
Đến từ: Tây Đô
Liên hệ:

TL: Các bước luận đoán lá số Tử vi (sưu tầm)

Gửi bài gửi bởi Tây Đô đạo sĩ » 15:22, 02/03/12


Mệnh Vô chính diệu có “ PHI YỂU TẮC BẦN “ không ?...

Cụ Quản Văn Chính (Trích trong Báo KHHB)

Trong số những độc gỉa đã gửi thư. Tôi để ý nhất đến BS Hoàng Đình Hiển ở Quảng Ngải. BS Hiển có một cậu con trai, và khi lập xong lá số Tử-Vi, ông hơi băn khoăn khi thấy cháu có Mệnh Vô chính diệu. Nhiều sách và nhiều thầy Tử-Vi cho rằng cung Mệnh Vô chính diệu không có sao chính diệu thủ mệnh đóng thì :” Nếu không nghèo tất chết sớm”

BS Hiển nhờ tôi gỉai tỏa nỗi băn khoăn. BS có cho tôi biết thêm là từ nhiều năm qua, kể từ khi còn là sinh viên Y-Khoa, Ông vẫn cố gắng làm tròn nhiệm vụ và luôn luôn lấy cái lý tưởng “Cứu nhân độ thế” của các bậc lương y làm kim chỉ nam cho cuộc đời, thế mà không hiểu tại sao cháu bé lại Mệnh Vô chính diệu ?.

Theo BS Hiển, đó là một điều hết sức phi lý, vì sách thường bảo rằng những người có Mệnh Vô chính diệu đều thường là con thứ, hoặc mẹ là vợ lẽ nàng hầu.

Tôi đã nói với BS Hiển rằng : Sách thường chỉ nêu những nét đại cương còn người xem số phải đem kinh nghiệm ra đối chiếu và phải tham bác các vị tiền bối ngõ hầu tìm ra được một sự thật tương đối !

Kế đó, tôi có kể ra những lá số Tử-Vi Vô Chính Diệu, mà người có số như thế đều :

- Không phải là con thứ;
- Không phải là con thứ thiếp hay nàng hầu;
- Cũng vẫn khá giàu, có địa vị và thọ gần 70 tuổi.

Đó là trường hợp của một Cụ sanh năm Mậu Tý (sinh năm 1888) và mất năm 1955, thọ được 68 tuổi có 10 con, 5 trai và 5 gái, người nào bây giờ cũng khá giả.

Cụ sinh năm Mậu Tý, tháng 3, ngày 30, giờ Thìn

Mệnh Vô Chính Diệu tại cung Tý, có Thiên-Đồng, Thái Âm cư Ngọ và Cự-Nhật cư Thân chiếu vào Mệnh cùng với Tả-Hữu và Xương Khúc. Như thế Mệnh Vô Chính Diệu đâu có “Phi yểu tắc bần”. Cụ này lại là con đầu của một gia đình trung lưu. Nhờ được cụ thân sinh thức thời, khéo uyển chuyển để thích nghi với tình trạng đất nước vào những năm đầu của thế kỷ thứ 20. Cụ Mậu Tý vào năm 1910, năm cụ 22 tuổi, đã bỏ bút lông, chuyển sang học quốc ngữ và Pháp ngữ nên khi chế độ thi cử bị Chính phủ Bảo Hộ bãi bỏ vào năm 1918 tại Miền Bắc để :

Ông Nghè, Ông Cống cũng nắm co
Ước gì đi học làm Ông Phán
Tối rượu sâm banh, sáng lại sữa bò.

Thì Ông Cụ Mậu Tý đã nghiễm nhiên là một “Chef Comptable” tại một hãng buôn lớn ở Hải Phòng, có lương cao, bổng hậu, tậu được nhiều nhà lớn cùng nuôi được con học thành tài !

Nhưng nếu Cụ Mậu Tý Mệnh Vô chính diệu này chỉ là bậc trung phú và gần thượng thọ, thì Lá số sau đây mới chứng minh được một cách thật rõ ràng rằng Mệnh Vô chính diệu mà vẫn Đại Phú Quý và Đại Thọ. Tôi muốn nói đến lá số của một nhân vật tại Sài Gòn trước đây mà hầu hết giới trí thức và giới sinh viên Luật Khoa đều biết đến. Đó là Giáo sư Đại Học Luật Khoa Vũ Quốc Thông đã từng làm Bộ Trưởng Bộ Y Tế dưới thời cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Đây là người có bằng cấp cao như thế mà Mệnh Vô chính diệu thì đủ cho qúy vị độc giả thấy rằng không một câu “Phú” nào trong khoa Tử-Vi Đẩu Số cũng có gía trị tuyệt đối cả.

GS Vũ Quốc Thông sinh ngày 22 tháng 11, năm Đinh Tỵ, giờ Tý :

Sở dĩ ông đỗ đạt cao như thế, đạt được “công khanh” như vậy là vì ông gần được như có được “cách” ở trong sách. “Mệnh Vô chính diệu đắc Tam không Hữu Song Lộc phú qúy khả kỳ” tức là Mệnh không có chính tinh tọa thủ cần phải có Tam Không thủ và chiếu, lại cần có hai sao Lộc Tồn và Hóa Lộc thủ hay chiếu nữa mới có thể một ngày kia được giàu sang hơn. Căn cứ vào câu phú này, tôi thấy GS Thông có được :

1- Nhị không, tọa, chiếu :

Tuần Không ở hai cung Tí , Sửu và Thiên Không ở cung Thiên Di chiếu thẳng vào Mệnh, tức là GS Thông được cách Mệnh Vô chính Diệu đắc Nhị Không. Cái Không thứ ba là Địa Không, mà trên lá số này, đóng ở Cung Hợi, cung Huynh Đệ, giáp Mệnh, có người lại cho rằng trường hợp của GS Thông lại còn tốt đặc biệt, vì “Chính bất như chiếu, chiếu bất như giáp”.

2- Song Lộc triều viên :

“Thân vinh quý hiển” nghĩa là Mệnh cung có Lộc Tồn và Hóa Lộc chiếu vào thì cuộc đời đỗ đạt lớn và làm nên sự nghiệp vẻ vang.

Áp dụng câu phú trên vào Lá số của GS Vũ Quốc Thông, tôi thấy ông tuổi ĐINH nên Lộc Tồn ở cung Ngọ, cung Thiên Di, chiếu thẳng vào Mệnh, mà cung Thiên Di lại có Thiên Đồng, Thái Âm đóng và theo lối:”Đinh Nguyệt, Đồng Cơ Cự” thì Hóa Lộc và Hóa Quyền đều ở Thiên Di chiếu Mệnh cho nên lá số Tử vi của GS Thông đúng là được cách ” Mệnh Vô Chính diệu đắc Nhị không, hữu Song Lộc, phú qúy khả kỳ”.

So với Lá số tuổi Mậu Tý nêu trên thì Lá số này thua Lá số tuổi Đinh Tỵ ở 2 điểm chính sau :

– Chỉ có Tuần Không ở Ngọ, Mùi chiếu mệnh.
– Không có Song Lộc tọa hay chiếu mệnh.

Nếu nay cho TRIỆT cũng là một KHÔNG lấy cớ là người ta thường gọi “Triệt Lộ Không Vong” thì lá số tuổi Mậu Tý được NHỊ KHÔNG, dù không thua Lá số của GS Thông qúa nhiều. Bởi lẽ có Xương, Khúc, Tả Hữu chiếu Mệnh, trong khi của GS Thông thì có Hữu Bật không có Tả Phù, có Văn Khúc không có Văn Xương.

Nếu tiếp tục thảo luận thêm thì tôi lại còn thấy như sau :

Khi cung Mệnh Vô Chính Diệu hay qúa xấu phải căn cứ cung Thiên Di mà đoán

Điều này quan trọng lắm, nhiều sách đã nói đến và kinh nghiệm cá nhân cho biết đôi khi tôi chỉ nhìn cung Thiên Di không cần nhìn vào cung Mệnh mà đoán gần trúng mọi việc chính.

Lá số của GS Thông tốt đặc biệt như thế là do cung Thiên Di có Lộc, Quyền, có Song Lộc, có Đào Hoa, Thiên Không đồng cung (thông minh) học giỏi là ở hai sao này, mà nhờ có Song Lộc, có Hóa Quyền nên ông không hoạnh phát, ông đi học mỗi năm một lớp rồi dần dần tiến đến địa vị cao sang, mà ông có tài, có học nên sự giàu sang, phú qúy của ông phải bền, chứ không lúc nổi, lúc chìm. Sở dĩ, tôi nói thế là tôi vừa nói theo các sao, lại vừa nói theo tướng mặt và chỉ tay nữa ! về các sao tôi nghĩ, số ông cung Mệnh không ngộ Địa Không và Địa Kiếp vì tôi thường thấy chỉ có những Lá số Mệnh Vô Chính Diệu mà có Địa Không, Địa Kiếp mới phát lên một cách đột ngột, để rồi cũng xuống một cách bất ngờ.

Lại nữa, Không, Kiếp tọa thủ Mệnh thì người không khoẻ mạnh mấy. Đằng này, nhờ là sinh vào giờ Tý, mà Mệnh đóng tại cung Tý nên GS Thông người trông thật phúc hậu, đẫy đà với đôi má dày, tức là nơi Địa Khố sung mãn tức là số giàu có lớn.

Bây giờ chỉ còn xét xem GS Thông sẽ thọ được bao nhiêu ? Trước hết, nếu hai cụ thân sinh ra giáo sư đã trên 80 tuổi mà còn tại đường, thì GS cũng hy vọng được thọ lắm. Tôi xin đan cử một ví dụ để chứng minh rằng Mệnh Vô Chính Diệu không những đại phú, mà còn đại thọ, hay thượng thọ nữa.



[blockquote] Cách đây đã lâu tình cờ , ở Sở Thú tôi đã được gặp một ông cụ đầu râu, tóc bạc, cho tôi mượn một quyển sách Tử-Vi bằng chữ Hán, trong đó có ghi một lá số Vô Chính Diệu thọ đến 92 tuổi. Đó là Lá số :Tuổi Đinh Hợi, sinh tháng 9 ngày 20 giờ Dần. Lá số minh họa Đại Thọ

Mệnh lập tại cung Thân, Vô chính Diệu, có Cự Nhật ở cung Dần và Đồng Âm ở cung Tý chiếu lên “Hư không chi địa”. Tôi chú ý đặc biệt lá số này. Bởi vì tác giả quyển sách đã không biết là lá số của ai, nên tôi đã đánh dấu một dấu hỏi to tướng thay cho chỗ vẫn dùng để ghi tên người có số như Khổng Minh, như Hán Cao Tổ.

Vì thế đến năm 1964, khi sang Đài Loan tôi có đem ra bàn với các bạn đồng nghiệp tại Bộ Giáo Dục của THQG thì được biết đó là lá số của Tử-Vũ mà phú Thái Vi có viết ”Tử-Vũ tài năng, Cự Tú Đồng Lương, xung thả hợp”.

Ông Tử-Vũ có tài vì Mệnh vô chính diệu ở cung Thân, có Cự Môn, Thái Dương (chứ không phải là Qủa Tú như có sách đã giảng) và Đồng, Âm. Cơ Lương chiếu, cùng với Tả, Hữu, Khoa, Quyền, Lộc. Số Đinh Hợi này thọ đến 92 tuổi là nhờ :

– Không có Điạ Không, Địa Kiếp chiếu vào Mệnh, Thân.

– Có Thanh Long ở cung Thìn hợp với tuổi Đinh, đi cùng Hóa Kị ở cung Dần chiếu vào Mệnh. Nhân dịp này tôi xin nói thêm rằng Cụ Ba La , rất thích những lá số “Thanh Long Thìn Thổ, Đinh Kỷ Âm Nam, gia hội Kỵ tinh, công danh toại mãn”. Cụ Ba La thường chỉ cho tôi biết là chỉ một cách này là đủ để giảng sự giàu sang, phú quý và thượng thọ của lá số tuổi Đinh Hợi nêu trên.

Giáo sư Vũ Quang Thông cũng tuổi Đinh Hợi cũng có Thanh Long ở cung Thìn, lại có Hóa Kị ở cung Thân chiếu vào Mệnh như lá số tuổi Đinh Hợi nên tôi chắc GS Thông vừa về lá số, vừa về truyền thống gia đình, ắt cũng sẽ được sống lâu, giàu bền như Tử-Vũ.

Lời giải đoán trên cũng là sự trả lời những thắc mắc của BS Hiển cũng như những ai có lá số Mệnh Vô chính diệu có “PHI YỂU TẮC BẦN” không ?.
LUẬN GIẢI NÉT TƯỚNG THANH NGA
Nữ nghệ sĩ tài danh đệ nhất trong hiện tại

Một bản chất ưa nghiên cứu
Nhìn về toàn thể gương mặt, thấy thuộc loại trái dưa vàng nét mặt đó biểu lộ một bản chất ưa nghiên cứu. Thí dụ như người có bộ óc và thần mắt hướng về văn học mà có gương mặt ấy, thì họ có thể đọc sách bên đống lửa hoặc giữa lúc tuyết lạnh; nói vậy có nghĩa là họ ham mê nghiên cứu không sao tả hết.
Nét mặt Thanh Nga cũng biểu lộ sự ham mê nghiên cứu như vậy. Thanh Nga hẳn đã ham mê tìm hiểu về nghệ thuật sân khấu, thí dụ như quan sát các nghệ sĩ diễn xuất để mà học hỏi, tìm hiểu và tự tạo cho mình một tài năng vượt trên mọi mức bình thường.
Một vài thắc mắc
Chúng tôi đã mấy lần được coi Thanh Nga trên tivi. Bởi thế mà khi coi tấm hình, tự mình thấy hơi bỡ ngỡ. Vì hình và vẻ mặt theo nhận xét trước kia trên tivi có khác nhau. Ở thật tế, nét mặt Thanh Nga có một đặc điểm: hai má không dầy. Nhưng tấm hình mà tôi được coi, thì lại rõ ràng là má đã dầy… Phải chăng là do sự điểm trang đặc biệt? Hay phải chăng là đường nét đã thay đổi tùy theo với thời gian và nếp sống. Có nghĩa là cuộc sống đã bớt sự tập luyện và diễn xuất cực nhọc, cho nên cặp má cũng trở nên phinh phính biểu lộ sự dư thừa vật chất?
Cho nên thoạt đầu có hơi khó đoán, cũng như nhiều trường hợp khác tương tự chúng tôi gặp được. Chắc quý bạn cũng thấy biết bao nhiêu trường hợp nữ nghệ sĩ, mới vào nghề thì gầy gò, nhưng khi thành danh và sống sung sướng thì người và mặt trở nên mập mạp.
Từ cặp má đến đôi mắt…
Căn cứ vào hình tướng thật của cô Thanh Nga, chúng tôi có thể đoán rằng đôi má kém dầy của cô trước kia biểu lộ một cuộc sống thiếu sung túc lúc ấu thời, cũng có thể là gặp cảnh gia đình kém an vui nữa.
Đôi mắt cô, thoáng trông qua trên hình, thấy đượm vẻ mơ mộng, u buồn, bất mãn, biểu lộ cái tâm tư của cô vào giai đoạn chụp tấm hình, có thể là lúc cô đang buồn, đang tức tối vì một hoàn cảnh trái ngang nào đó. Biết đâu là vì một hoàn cảnh nào mà con chim họa mi xinh đẹp không còn được tự do bay bổng thả lên những khúc ca tuyệt vời, để rồi phải giảm hẳn sinh hoạt sân khấu, mà nàng buồn như vậy?
Những lần coi tận mắt
Tôi cũng căn cứ vào những lần coi người nghệ sĩ tài danh Thanh Nga trên tivi để giải đoán. Một lần cô đóng vai Điêu Thuyền, sanh vai với chàng Lữ bố Phùng Há. Một lần khác, cô đóng vai nữ chúa rừng xanh, một vở tuồng trinh thám mà tôi quên mất tên.
Khi cô ở vai Điêu Thuyền, tôi thấy cặp mắt của cô nhí nhảnh và long lanh, biểu lộ một cố tình lôi cuốn để làm cho ông tướng Lữ Bố phải bị hớp hồn. Trong vở tuồng Phụng Nghi Đình, cô Thanh Nga thật là điêu luyện vô song.
Trong vai một nữ chúa rừng xanh, cô Thanh Nga có cái nhìn soi mói, đầy sâu sắc. Tuy là cô diễn xuất trên sân khấu, nhưng các nhà tướng pháp có thể đã đủ yếu tố để định luận về cuộc đời của cô về phương diện tình duyên.
Rõ là những cái nhìn của cô Thanh Nga có những luồng nhơn điện nẩy lửa: cặp mắt của cô biểu lộ sự sâu sắc đầy vẻ thăm dò, như thể một ngọn đèn cực sáng xuyên vào một cái hang sâu thẳm và trong đó không có vật nào có thể ẩn nấp. Mặc dù là trên sân khấu cô đã ngự trị hoàn toàn trên đám tướng bị hớp hồn; nhưng trong thực tế, suy ra cũng chẳng xa là bao, cô có thể ở ngoài đời điều khiển vô khối kẻ khác cũng như vậy.
Vấn đề nhân duyên
Tổng hợp mấy nét, nhất là cặp mắt sâu sắc, có thể luận về đường nhân duyên của cô Thanh Nga như sau:
1.Cặp mắt của cô quá sâu sắc, dễ soi thấu tận đáy lòng của những người gần gụi, nên nhiều mối thất vọng phát sinh ra, để rồi những chuyện trăm năm mà cứ như chuyện tầm phào nhất thời trên sân khấu.
Về duyên số, nếu Thanh Nga gặp một vài trái ngang, đó là vì cặp mắt. Xin biện minh thêm về điều đó. Cuộc đời của con người có những gắn bó là do những ước mơ khi chưa đạt, khi đương đợi chờ. Mộ kho báu một họa phẩm, có những sức hấp dẫn từ xa xa. Khi gần, khi đã nắm được, thì sức hấp dẫn lại khác. Luận ra thì cặp mắt của Thanh Nga đưa cô đến những thất vọng. Các đấng trượng phu được gần cô, ở xa xa thì được, nhưng gần gụi và được xát lại trên nghĩa đồng sàng, thì vẫn là những con người thiếu xót rất nhiều, khác với những sở nguyện của cô. Ở đời, còn gì thất vọng cho bằng mỗi khi tìm ra ở những người yêu một sự thật mà chỉ là một sự thật tầm thường mặc dù là về tiền tài hay danh vọng thì họ có thể là có thừa.
Trên sân khấu, cuộc đời của các nhân vật đều ngắn ngủi, dù họ là vua chúa hay là những ông tướng oai phong lẫm lẫm. Và tất cả đều là giả tạo trên sân khấu quá quen thuộc đã ảnh hưởng vào tâm trí và khiến cho cô Thanh Nga quan niệm cuộc sống thực cũng như cuộc sống trên sân khấu tuy có dài hơn?
Luận như vậy là thiên về tâm lý. Nhưng tướng chẳng phải một phần khá lớn là tâm lý hay sao?
Dĩ nhiên, ngó trên hình thì hãy còn thiếu những yếu tố, như tóc tai, xương thịt, nhưng cũng có thể phê rằng cuộc đời của người nghệ sĩ tài danh Thanh Nga có đôi phần hệ lụy. Nếu cô có thể gạt bỏ được ở những người thân thuộc một số những yếu tố về ngọn nguồn dậy sóng thì cuộc đời của cô mới gọi là vui tươi lên được
Phần tướng trên mặt còn cái mũi và cặp môi của cô, chúng tôi sẽ xin trình giải tiếp.
[/blockquote]


Nguồn:Một Số Tạp Chí Khoa Học Huyền Bí Trước Những Năm Giải Phóng

Hình đại diện của thành viên
Tây Đô đạo sĩ
Bát đẳng
Bát đẳng
Bài viết: 7976
Tham gia: 19:37, 19/10/10
Đến từ: Tây Đô
Liên hệ:

TL: Các bước luận đoán lá số Tử vi (sưu tầm)

Gửi bài gửi bởi Tây Đô đạo sĩ » 18:38, 02/03/12

NGHĨ VỀ TƯỚNG SỐ
12 CUNG TRÊN LÁ SỐ:
Ý NGHĨA TUẦN TỰ TRONG CUỘC ĐỜI
CÁC CUNG TƯƠNG ĐỐI & ẢNH HƯỞNG VÀO NHAU


- ĐÔNG NAM Á –

Ý nghĩa 12 cung trong số Tử vi quả lÀ tinh tế, huyền nhiệm nhưng cũng rất đơn giản, dễ hiểu vì 12 cung chỉ lÀ 1 vòng tròn mÀ trÊn đó, số mệnh con người được ấn định. Nếu hiểu được Đạo mÀ vòng tròn lÀ biểu tượng thì cÁi Ý nghĩa 12 cung nó hiển lộ ngay trÊn cuộc sống của mỗi người. Vậy thì 12 cung, theo thứ tự, đã lần lượt chỉ cho ta thấy cuộc đời mỗi người. Hiểu Ý nghĩa sự sống, hiểu Ý nghĩa nhân sinh, đạt được cÁi mục d9ihc1 của đời người, đắc được cÁi Đạo Dịch Ly71 hoặc Đạo ThÁnh Hiền vÀ riÊng trong Tử Vi, 12 cung đã được Trần ĐoÀn sắp xếp có tÔn ti trật tự, thiết tưởng Ý nghĩa đó khÔng có gì lÀ khó khăn, rắc rối, khÔng có chi mÀ tăm tối, mÔng lung…

Dù sao, cũng kinh nghiệm, cũng đã từng 1 sống 2 chết, thiết tha với Tử Vi lắm lắm mới có thể cả gan dÁm phÁt biểu như trÊn. Nhưng nói thì dễ, thực ra, qua mấy chục năm mÀ tÔi vẫn chưa thấy Chân lÝ Tử Vi – đÔi khi lại còn hoang mang, bực tức hoặc buồn phiền vì thấy những sự trÁi tai gai mắt trong lÀng tướng số. hoang mang cũng phải, vì khi thì thấy Ông thầy nÀy “bịa” ra ngÔi sao Bắc Đẩu; Ông thầy kia “phịa” ra ngÔi sao Nam TÀo vÀ cho lÀ khÁm phÁ mới; hoặc có thầy thì lại tuyÊn xưng cho mình những danh hiệu hết sức li kỳ. CÁi long hoang mang của tÔi khÔng phải lÀ thiếu lòng tin vÀo chính mình, mÀ thật ra lÀ để nghi ngờ đúng theo tinh thần Tử Vi vậy
Nếu người ta có cuốn Tự điển về tinh tú Tử Vi thì có lẽ ngÀy nay phải in thÊm vÀo đó những ngÔi sao mới cho kịp đÀ tiến hóa của khoa ThiÊn Văn Học

NẾU LÀ NHÀ TƯỚNG SỐ ĐẮC TRUYỀN

Nói cho vui vậy thÔi, chứ chính lÝ ra mỗi lÁ số chỉ có khoảng 108 vị sao vÀ vÀi trăm cÁch tốt xấu. Cho nÊn, khi lÀ nhÀ Tướng Số đắc truyền, chỉ cần xét cÁ nhân ấy được tốt về những sao nÀo hay xấu về mấy sao. VÀ nguyÊn tắc để minh chứng cho những điều khen hay chÊ, tốt hay dở về cÁc sao đó đều phải băng vÀo quÁ khứ mấy Ông thầy đoÁn đó.
Ví dụ như thầy bói khen lÀ :
“Phúc đức của ngÀi lớn lắm! Nhờ vÀo cung nÀy nÊn ngÀi….thế nÀy….lại được thế kia….”
Hoặc lại biết than chủ học cao, chức vụ lớn, tiền tÀi to tÁt, tuổi lớn thì Ông thấy cÀng nói được những điều tốt lÀnh, hoặc khuyÊn nhủ, hoặc chÊ bai….
Còn trường hợp Ông thầy cứ khen nức nở, đoÁn rồi sẽ giÀu sang phú quÝ…tòa những chuyện tương lai …thì ai đoÁn chả được. hoặc những chuyện thường (??) lÝ thì ai nói cũng đặng

NóI BỪA TƯƠNG LAI
Có 1 điểm tệ hại lÀ, thầy bói nÀo cứ căn cứ vÀo chuyện thị phi, lòng tham sân si của người cầu biết việc mai sau mÀ cứ dựa vÀo điểm đó để tha hồ nói nhăng nói cuội thì quả lÀ 1 cÁi tội đÁng bị…cụt lưỡi!
Nếu có người khÁch hỏi về con cÁi họ, tương lai của những trẻ mươi tuổi, thì phải căn cứ vÀo đâu mÀ đoÁn vÀ phải dựa vÀo đâu để tối thiểu những lời đoÁn có minh chứng, có mạch lạc sÁng sủa để người khÁch tin tưởng?
Xin trả lời lÀ, trÊn căn bản của phép đoÁn, trước nhất phải xét đoÁn bậc cha mẹ, gia thế của người đó thuộc loại nÀo, như về cÔng danh hoặc tiền bạc. Thứ đến lÀ xét đoÁn về anh chị em đứa trẻ đó, nếu đứa trẻ đã mươi tuổi thì xét sức học của nó, tính tình vÀ sức khỏe nó. Sau cùng mới dung đến phép luận đoÁn của tướng số mÀ nói về tương lai của đứa trẻ. Cứ nói theo khả năng của mình vÀ đừng sợ sai. 10 câu đoÁn thì cũng phải 5 câu đúng. Vả lại, mục đích khi luận giải về tương lai trẻ lÀ có Ý để bố mẹ nó để Ý đến việc giÁo dục vÀ đời sống nó, tức lÀ chú tâm đến tương lai nó, dù tương lai đó sẽ tốt đẹp hoặc kém cỏi
VÀI PHéP ĐOÁN
TÔi chỉ xin bÀn sơ về phép đoÁn, về nguyÊn tắc căn bản của Tử Vi. Mỗi lÁ số, dù chỉ được 1 hoặc 2 cÁch cũng đủ “cuộc đời lÊn hương”. Chỉ đắc 1 hay 2 cÁch thÔi cũng ví như “1 viÊn kim cương nằm trong 1 nắm cÁt”, đủ lÀm cho cả lÁ số trở nÊn tốt đẹp. TrÁi lại, nếu xé vÀo cÁch xấu thì cả lÁ số đó cũng hư tuốt, cũng ví như 1 viÊn kim cương nằm trong nắm cÁt, viÊn kim cương đó bị nứt, bị sứt mẻ hoặc mÀu sắc loạn thì cũng vÔ giÁ trị
Tuy nhiÊn, số mạng còn cần có 1 yếu tố khÁc nữa lÀ : gặp vận tốt hoặc hạn xấu hay khÔng. Sự may rủi có đến đúng lúc, hợp thời thì mới ích lợi, chẳng hạn như giữa mùa hạn hÁn gặp 1 trận mưa rÀo đổ xuống còn quÝ hơn gấp vạn lần l;À mưa vÀng, mưa bạc. hơn nữa, 1 bÁt nước đÔi khi còn quÝ hơn 1 lạng vÀng. Bởi vậy, 1 nhÀ Tướng số phải thấu triệt nhựng điểm căn bản đó, phải vượt qua những thÀnh kiến của chính nghề mình vÀ những thÀnh kiến của khÁch thì những lời giải đoÁn của mình mới có thể tiến gần tới chân lÝ được.

12 CUNG SỐ
Bây giờ xin trở lại 12 cung số
Theo ngu Ý của tÔi, có lẽ Trần ĐoÀn đã ngầm gởi lại cÁi Ý nghĩa của sự “tiếp nối” của con người, như ta có thể thấy trong 1 lÁ số Tử Vi:
Cung Phụ Mẫu ở ngay sau cung Mệnh, tức hÀm 1 Ý nghĩa lÀ con người phải chịu 1 nguyÊn tắc cố định lÀ do cha mẹ sinh ra. Nếu tính thuận thì cung Phụ Mẫu lÀ vòng chính (thuận). Tại sao từ cung Mệnh trở đi lại theo vòng nghịch, cha mẹ sinh ra mình
Rồi sau cung Mệnh, chúng ta thấy cung Huynh đệ. Điều nÀy cho ta nhận rõ lÀ khi con người còn thơ ấu đã có lien hệ mật thiết với an hem ruột thịt cho tới lúc thÀnh nhân vÀ cho cả tới chết
Kế đến, khoảng thời gian từ 20-30 tuổi gặp ảnh hưởng cảu cung Phu/ThÊ, tức lÀ thời kỳ hÔn nhân. Đã thÀnh vợ chồng rồi ắt lÀ phải có con, vÀ chúng ta thấy cung Tử tức nằm kề bÊn
Đã đeo mang vợ con gia đình thì phải tìm cÁch sống, phải thỏa mãn mọi nhu cầu. Cho nÊn khoảng 30-40 tuổi ta thấy cung TÀi, tức cung tiền bạc. Cung nÀy thật quan trọng, nó cho thấy người ta phải bon chen 1 cÁch lẹ lÀng, khÔn ngoan…để có tiền
Thời gian ở cung TÀi lÀ thời hoạt động xÔng xÁo, nắng mưa, cực nhọc vÀ phiền não cho nÊn rất dễ đưa tới bệnh tật, đau ốm, bởi vậy ta thấy cung Ách nó đi theo sÁt ngay sau
VÀ cũng bởi cần thỏa mãn như cầu của gia đình về tiền bạc vÀ sức khỏe….để bảo toÀn hạnh phúc, khÔng phải chỉ ngồi 1 xó trong nhÀ mÀ có tiền, trÁi lại phải đi nơi nÀy, chạy nơi khÁc, hết phố nÀy đến đường kia, cho nÊn đã có ngay cung Di cho ta thấy đi đây đi đó như thế nÀo
Kế tiếp cung ThiÊn Di lÀ cung NÔ, cung bạn bè. Vì khi ra đời, đi đây đi đó, va chạm với mọi người thì phải lựa người mÀ chơi, kén bạn chọn bè. Có câu :”GiÀu về bạn” thật chí lÝ
Nếu Thân ta giÀu, cÔng danh lớn, lÀm quan tướng hoặc nói theo ngÀy nay lÀ lÀm tổng nÀy tổng nọ thì bạn bè ta ắt cũng thuộc ngang như ta. Cho nÊn kế cung nÔ lÀ cung Quan vậy
Khi đã cÔng danh, quan tước lÀ lúc có tiền bạc, sẽ tới việc mua nhÀ, tậu ruộng, lập vườn mở đất đai cho phì nhiÊu phong phú. Vậy kế cung Quan lÀ cung Điền
NhÀ cửa, tiền tÀi, danh vọng đã có, tức lÀ nền tảng đã chắc thì trong giai đoạn cuối nÀy mới nói đến phúc đức. Lúc nÀy đây mới biết rõ ai lÀ người ngay chính, ai lÀ kẻ gian tÀ, vì nếu trong giai đoạn nÀy, nếu ai bị tÁn gia bại sản, con chÁu lao đao lận đận thì có lẽ đó lÀ cÁi quả phải chịu….Còn nếu an cư tuổi giÀ 1 cÁch thanh tịnh, điềm đạm, con chÁu hòa thuận, học hÀnh tiến triển thì đó lÀ cÁi quả được hưởng của cả 1 đời xây dựng, hoặc được con chÁu tận tụy, dưỡng nuÔi hiếu thuận

Dù sao cũng nÊn hiểu tất cả cÁc cung điều chỉ lÀ tương đối vÀ đều ảnh hưởng vÀo nhau. KhÔng có lÁ số nÀo lÀ hoÀn hảo, vÔ phúc hoặc đại phúc. Có thì chỉ lÀ họa hoãn vÀ đại phúc thì khó giữ được bền lâu
Có trời đất thì cũng có ta. Con người tuy nhỏ bé nhưng định mệnh dù đã được an bÀy, con người vẫn mãi mãi tồn tại trÊn TrÁi Đất trong sự tiếp nối vÔ tận. Định mệnh khÔng hủy diệt được con người, chỉ con người mới tiÊu diệt được đồng loại thÔi
VÀ nÊn nhớ, 1 lÁ số đã được viết cho 1 người, mệnh kẻ đó đã được định thì đó lÀ 1 đại phúc chứ khÔng phải 1 tai họa. Nhất lÀ giữa thời buổi tăm tối hiện nay, người ta khÔng còn tin vÀo chính mình nữa nÊn mới tìm đến lÝ số thì cũng nÊn chờ đợi 1 hÀi nhi sang lÁng nÀo đó xuất hiện trÊn đời, thắp sang cây đuốc dẫn mọi người thoÁt khỏi si mÊ…

CÁC NÉT TƯỚNG TRONG CƠ THỂ
. LƯNG, NGỰC, BỤNG, MÔNG & TAY CHÂN PHẢI THẾ NÀO MỚI TỐT?
. TƯỚNG VÚ CỦA ĐÀN ÔNG & TƯỚNG RỐN CỦA ĐÀN BÀ
. QUÝ TƯỚNG CỦA ĐỔNG TRÁC, TỀ HOÀN CÔNG & LƯU BỊ.

- HOÀNG SINH -


CÁc phần trong cơ thể, trừ đầu vÀ cổ ra thường được y phục bao bọc kín đÁo, vừa gặp 1 người chỉ 1-2 lần, chÚng ta ít khi biết được. Người ta gọi đó lÀ ẩn tướng. Nhưng thật ra nó chỉ ẩn với cặp mắt phÀm nhÂn thÔi, còn đối với cÁc tướng thuật gia thì khÔng nhiều thì ít, nó vẫn hiện ra như thường. VÀ từ đó, người ta có thể đoÁn được thịnh, suy, họa, phÚc. Nếu tục ngũ có cÂu nói :”CÁi Áo khÔng lÀm nên thầy tu” thì ta cũng có thể nói :”Y phục khÔng thể che dấu hay sửa đổi cốt cÁch của con người”. Bởi vì:
“Dục xuyên quÝ nhÂn y
Tu sinh quÝ nhÂn thế”
Nghĩa lÀ:
“Muốn mặc Áo của người sang
Phải có 1 hình tướng quÝ”

TƯỚNG NGỰC & LƯNG:
Ai đọc TÂy HÁn Chí đều nhớ có đoạn KhoÁi ThÔng nói với HÀn Tín rằng:
“Tướng mặt của NgÀi bất quÁ được phong Hầu nhưng tướng lưng của NgÀi quÝ khÔng thể nói hết được”
KhoÁi ThÔng muốn dung tướng lÝ để xui hÀn Tín lÀm phản
Thật ra, lưng khÔng có được 1 giÁ trị quan trọng như lời KhoÁi ThÔng nói. Lưng vÀ ngực lÀ phần them hay bớt chÚt đỉnh vÀo phần tướng mặt mÀ chÚng ta đã biết để xem điều đó chắc chắn hơn mÀ thÔi. Lưng vÀ ngực luÔn đi liền nhau. Lưng phía sau thuộc Âm, ngực phía trước thuộc Dương. Lưng khÔng nên lõm xuống, có rãnh ở giữa vì đó lÀ Âm hữu dư, người suốt đời vất vả. Ngực khÔng nên gồ lên cao vì đó lÀ Dương hữu dư, người tính nóng nảy, hay gÂy sự với chòm xóm lÁng giềng.
PhÚ viết :”Ấp bối nga hung, ngã tử hÀ nan”
Có nghĩa lÀ: “ lưng lõm như lưng vịt, ngực gồ như ngực ngỗng khó trÁnh được cảnh chết đói”
Những người có cuộc đời vất vả, nếu lưng khÔng cong lõm xuống thì ngực cũng ưỡn ra lÀ vì lẽ ấy. Lưng của ai nghiêng lệch còn hiếm con nữa. Điều nÀy xÉt về phương diện y học rất đÚng: lưng nghiêng lệch lÀ vì xương sống khÔng thẳng, có bệnh. MÀ xương sống có chứa những đường thần kinh lien quan đến cơ quan sinh dục. Do đó, ai muốn kÉn chọn vợ chồng, khÔng thể khÔng để Ý đến điều nÀy.
1 cÁi lưng tốt khÔng những phải trò dÀy mÀ còn phải chắc chắn, rộng rãi nữa, khÔng được mỏng manh, yếu đuối vÀ nhất lÀ bẹt như tấm vÁn. Người ta thường dung chữ “vai hùm lưng gấu” để chỉ những vị tu7o7ng1manh5 mẽ trong truyện TÀu thời xưa. Lưng của con gấu có bao giờ mỏng manh vÀ phẳng bẹt đÂu
1 cÁi ngực tốt cũng phải rộng rãi đầy đặn, tăm sa (chỗ cuối xương mỏ Ác) khÔng được lõm xuống sÂu. Tăm sa lõm xuống sÂu cũng như lưng có rãnh, con người khÔng thể sung sướng được. Những người nhiều tuổi, mập mạp, thịt ở trên ngực chảy sệ xuống trÔng như vÚ của đÀn bÀ. Đó lÀ quÝ tướng hay phÚ tướng thì đÚng hơn:
“Tam nhũ lÀ tướng cÔng hầu
Tứ nhũ lÀ bÁu, đã giÀu lại sang”
Nghĩa lÀ những bắp thịt rũ xuống trÔng như cÀng có nhiều vÚ cÀng tốt. sang thì khÔng nghiệm lắm, nhưng giÀu lÀ điều chắc chắn. ta cứ nhìn mấy Ông TÀu chủ tiệm, bất cứ tiệm gì, lÚc ở trần thì rõ: suốt ngÀy họ chỉ có mỗi 1 việc lÀ đếm tiền. Đối với đÀn bÀ, vÚ cần lớn vÀ chắc, đầu vÚ mÀu đỏ vÀ hướng lên cao lÀ tốt hơn cả. “Nhũ đầu chi địa” lÀ tiện tướng của đÀn bÀ. Ai đã xuống xóm chị em nhiều sẽ thấy điều nÀy ứng nghiệm ngay.

TƯỚNG BỤNG
Đối với cổ nhÂn, bụng lÀ chỗ thay cho khối óc để suy nghĩ. Người ta thường nói :”Suy bụng ta, ra bụng người” hay lÀ :”TÔi nghĩ bụng rằng…”. Đối với nhÀ nho, bụng còn lÀ chỗ chứa đựng sự khÔn ngoan nữa. “Binh giÁp tÀng hung trung” (đồ đÁnh giặc chứa sẵn trong bụng) – ai mÀ quên được cÂu nói đó của Nguyễn CÔng Trứ
Thật ra, bụng chỉ lÀ chỗ để chứa đựng vÀ tiêu hóa đồ ăn nuÔi sống cơ thể. Như vậy, bụng lÀ nguồn gốc của sự sống, phía dưới bụng có huyệt đan điền cÁch rốn chừng 4 cm. Đó lÀ chỗ tích tụ khí lực của con người. CÁc đạo gia khuyên chÚng ta muốn trường thọ vÀ vÔ bệnh hãy thở bằng bụng chứ đừng thở bằng ngực (xin có 1 bÀi nói về đề tÀi nÀy sau)
Như vậy, bụng nên lớn để chứa đồ ăn được nhiều. ĐÀn Ông con trai bụng cần tròn, to chắc vÀ nhất lÀ xệ suống mới quÝ. DÁng đi khin đó sẽ trở thÀnh oai nghi, bệ vệ. Danh sư hứa Phụ dạy rằng:
“ Đại phÚc thủy hạ danh mãn thiên hạ

PhÚc như bÁo nhi vạn quốc danh đề”
Nghĩa lÀ:
Bụng lớn vÀ xệ xuống danh vang khắp nơi. Bụng như đÀn bÀ có mang, cả thế giới biết tiếng. Nhưng bụng dù to cũng phải gọn gang, khÔng được nÚng nính như chứa đầy mỡ. Ai có bụng đó, đầu lại to như quả muỗm, khÔng có góc cạnh nữa thì đó lại lÀ hạng tầm thường. Đó đÚng lÀ cÁi tÚi đựng cơm, nếu khÔng lÀm tÔi tớ người khÁc thì cũng lÀ hạng nhÀ quên ngu dốt hay quÂn cờ bạc hang điếm:
“Đầu đại vÔ giốc (góc cạnh) – phÚc đại vÔ thÁc (lớn sồ sề) bất thị nÔng phu, thị đổ bÁc”

BÀN VỀ EO CỦA ĐÀN ÔNG & ĐÀN BÀ
NgoÀi bụng có rÚn. RÚn lÀ cuống của nhau, nguồn gốc của sự sống từ lÚc còn nằm trong bụng mẹ. Từ đó ta thấy rÚn nên sÂu mới có phước lộc – gốc cÂy mÀ rễ cạn thì lÀm sao hÚt được mÀu cho tươi tốt được? RÚn nằm cao lÀ người khÔn ngoan, cÀng thấp xuống dưới cÀng kÉm hiểu biết. ĐÀn bÀ rÚn lại cÀng cần sÂu hơn nữa vì con cÁi sẽ nhờn vÀo đó, cÀng sÂu cÀng đÔng con, nếu có long lại cÀng tốt, sẽ sinh quÝ tử.
Trẻ con lÚc mới sinh ra, nếu rÚm lồi quÁ, nên nhờ mấy người ăn mÀy cầm cÁi gậy giả bộ chọc vÀo, dần dần nó sẽ xẹp xuống, dễ coin gay. QuÝ bÀ nếu có con, gặp trường hợp như vậy xin cứ thử xem, linh nghiệm phi thường. biết đÂu chỉ nhờ 1 vÀi cÁi chọc đó mÀ cuộc đời con mình khÁ hơn. Tướng số huyền bí lÀ như thế đó)
Ngũ tạng trong bụng thong ra ngoÀi bằng rÚn nên rÚn lÀ 1 vị trí quan hệ vÔ cùng. Có kẻ nói, gặp trường hợp 1 người bất tỉnh, ta chỉ cần dung kim chÂm vÀo rÚn (lể) lÀ người đó sẽ tỉnh lại ngay. Điều nÀy người viết xin để tồn nghi vì chưa được chứng kiến 1 lần nÀo
Nếu bụng to lÀ tốt thì ta suy ra rằng cả đÀn Ông vÀ đÀn bÀ eo khÔng nên nhỏ. TÔi nói đÀn bÀ mÀ khÔng nói thiếu nữ vì điều nÀy chỉ Áp dụng cho người đã lớn tuổi, lập gia đình rồi. Còn con gÁi mÀ đã sồ sề thì ai coi cho được? Ai có thắt lưng nhỏ, đÀn Ông thì cực khổ, khÔng bao giờ ở địa vị chỉ huy, còn đÀn bÀ, dù có dư tiền bạc cũng phải phong trần.
PhÚ viết:
“Nam nhi yếu tế nan chủ chủ phÚc tÀi”
Nghĩa lÀ: “Con trai eo nhỏ kÉm phÚc kÉm tiền”
“Nữ tử yêu triết, bộ hÀnh hoÀnh, chung chiêu tÂn khổ”
Nghĩa lÀ:” con gÁi eo gãy, bước đi nagng, đi hang hai, sớm chiều khổ cực”
Có cÂu :” Những người thắt đÁy lưng ong
Vừa khÉo chìu chồng lại khÉo nuÔi con”
ĐÂy có thể lÀ loại đÀn bÀ xinh đẹp, đảm đang nhưng khÔng thể lÀ hạng người sung sướng. ĐÀn bÀ cần phải có cốt cÁch trọng hậu, mÀ cốt cÁch đó muốn có, eo cần phải tr2on, lưng cần phải dầy. CÁc bÀ mệnh phụ phu nhÂn có thể khÔng xinh đẹp như ThÚy Kiều nhưng ai cũng yêu viên bối hậu cả. ĐÀn bÀ đẹp chưa phải lÀ tướng tốt. Đa số cÁc nhi kỷ nổi tiếng đều có nhan sắc diễm lệ nhưng chung than có tốt đẹp gì đÂu? Xấu như con ma Chung VÔ Diệm vẫn lÀ chÁnh cung của vua Tề Tuyên Vương trong tam cung lục viện. Cốt cÁch trọng hậu cần cho đÀn bÀ như thế.

49 CHƯA QUA – 53 ĐÃ TỚI
TRAI ĐỨNG CHỮ QUÝ CÓ TÀI
GÁI ĐỨNG CHỮ QUÝ ĐI HAI LẦN ĐÒ


-TRẦN HẢI BÍCH
VĂN XƯƠNG CƯ SĨ –

Tôi đà theo dõi thường xuyên KHHB, nhất lÀ khoa Tử Vi. Trong quÝ bÁo…., cụ Đẩu Sơn cÓ yêu cầu giải đÁp 2 câu trên. Tôi xin giải đÁp như sau:

· Những tuổi đứng chữ QuÝ gồm QuÝ Dậu, QuÝ Mùi, QuÝ Tị, QuÝ MÃo, QuÝ Sửu vÀ QuÝ Hợi. Bây giờ chúng ta theo hệ thống Tử Vi thì biết :

- cÁc tuổi đứng chữ QuÝ đều cÓ giÁp Khôi giÁp Việt;

- QuÝ Mùi cÓ them ĐÀo hoa (cư TÍ);

- QuÝ Tị cÓ them giÁp Hồng, ĐÀo, giÁp Long, Phượng;

- QuÝ MÃo cÓ them ĐÀo hồng cư TÍ, đồng cung Long Phượng

- QuÝ Hợi cÓ thêm ĐÀo Hoa (cư TÍ)

- QuÝ Dậu cÓ them hồng ĐÀo đồng cung, Long Phượng đồng cung

Theo phú Trần ĐoÀn : Khôi Việt giÁp vi Kỳ cÁch.

Chưa kể những cÁch hay khÁc của tuổi đứng chữ QuÝ:

- Khôi Việt cÁi thế văn chương

- Thiên Ất QuÝ nhân cÁch – tức lÀ tọa QuÝ hướng QuÝ

- Khôi Việt đối chiếu. Giả Nghị niên thiếu đăng khoa

- GiÁp QuÝ giÁp Lộc thiểu nhân tri (giÁp khôi Việt, giÁp Long Phương, giÁp hồng ĐÀo đều lÀ quÝ. CÁc tuổi đứng chữ quÝ phần nhiều lÀ cÓ cÁch trên, cÓ tÀi năng. Chưa kể những cÁch giÁp Tử Phủ, giÁp Xương Khúc, giÁp Khoa Quyền..vv…mÀ cÁc tuổi đứng chữ QuÝ không cÓ)

- Khôi Việt phụ tinh vi phúc thọ

- Khôi Việt lâm mệnh vị chi tam thai (quyền cao chức trọng)

- VÀ những cÁch Long Phượng, hồng ĐÀo theo phú Trần ĐoÀn:

- Long Trì Phượng CÁc thủ đắc quÝ nhân

- Khúc Xương Long Phương phÁt văn

- GiÁp Long Phượng phú hữu lâu dÀi

- ĐÀo hồng cư quan tảo tuế đắc quan hÀnh chÍnh (đÀo hồng ở cung Quan sớm được lÀm công chức hÀnh chÁnh). Khoa số tử vi của ta cÓ dịch :”

- Cung quan mÀ ga95p ĐÀo hồng. thiếu niên đà thỏa tang bồng chÍ trai”

Theo những cÁch trên, trai hay gÁi đứng chữ QuÝ nhất định cÓ tÀi, cÒn ai phủ nhận nữa
Trai gÁi đều cÓ tÀi, nhưng gÁi đứng chữ QuÝ đi 2 lần đÒ, Ý nÓi tình duyên đa truân. Đa truân thì cả 2 phÁi mới đúng vì cả trai gÁi đều cÓ những cÁch giống nhau, nhưng gÁi thì đa truân cÒn trai thì không, tôi sẽ trình bÀy trong đoạn sau:
Nghiên cứ về tuổi đứng chữ QuÝ đều cÓ Thiên mà ngộ ĐÀ La (tọa hay xung chiếu) vÀ Mà ngộ Tuần hay Triệt; Mà ngộ Tuyệt – Mà cư Hợi cung
Mà ngộ ĐÀ lÀ triết túc mà (ngựa què)
MÃ ngộ Tuần, Triệt, tuyệt lÀ MÃ Tử (ngựa chết)
MÃ cư Hợi lÀ MÃ cùng đường
(cÁc cÁch trên Ý nÓi gặp tai họa suy sụp, tang thương, chết choc hay thất bại. Mệnh, Phu hay hạn cũng thế)
Bị cÁc cÁch trên, gÁi đứng chữ QuÝ thật lÀ gian truân, vất vả, lao nhọc trăm đường. Lại them cÁc cÁch Hồng ĐÀo bất lợi cho phÁi nữ dù rằng cÓ tÀi hoa, tÀi năng thÁo vÁt, siêng năng, tề gia nội trợ. Con gÁi tÀi hoa thường tÀi mệnh tương đố. Nguyễn Du mở đầu Truyện Kiều cÓ viết:
“Trăm năm trong cõi người ta
Chữ tÀi chữ Mệnh khéo lÀ ghét nhau
Trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mÀ đau đớn long
Lạ gì bỉ sắc tư phong
Trời xanh quen thÓi mÁ hồng đÁnh ghen”

“Chữ tÀi liền với chữ tai một vần”

Theo phú Trần ĐoÀn:
:”Sở ai giả hồng Loan tứ mộ Phu cung”
Nghĩa lÀ:
Hồng loan đÓng ở cung Phu tại Thìn, Tuất, Sửu , Mùi lÀ số tang phu tức lÀ chon chồng

“Hồng Loan phùng Địa Kiếp ư phu cung bất hảo chi thập”
Nghĩa lÀ:
“Cung Phu tốt 100% cũng giảm đi 1 nửa”

“Hồng Loan thủ mệnh chủ nhị phu”
Chưa kể:” ĐÀo hoa phạm chủ vị chÍ dâm”

Trai gÁi cÓ Khôi Việt, Long Phượng, hồng ĐÀo đều tÀi năng lả lướt, đa tình, tâm hồn nghệ sĩ. GÁi thì gian truân, trai thì hạnh phúc
Tôi biết 1 vị thương gia ở ngoÀi Trung cÓ 2 vợ, mỗi vợ nhÀ cửa đÀng hoÀng, mỗi bÀ cÓ 15-16 người con. CÓ năm 2 bÀ cùng chửa, cùng đẻ, thật lÀ hạnh phúc cho anh chồng nÀy vô cùng. Trong gia đình chả bao giờ cÓ sự ghen tuông đố kị dù rằng 2 bÀ nÀy ở cùng 1 phố. Vị thương gia nÀy cũng tuổi chữ QuÝ
Nhưng trÁi lại, cô phụ nữ nÀo đa nhân duyên, 2-3 chồng cÓ dÁm sinh hoạt vÀ sống đÀng hoÀng như ông nÀy không? Dù rằng cÓ của vÀ nhất lÀ vấn đề con cÁi, giải quyết như thế nÀo?
Vậy cÁc bạn trai chữ QuÝ, nếu chưa vợ, tôi chúc cÁc bạn thÀnh công trên mọi lĩnh vực, nhất lÀ lĩnh vực tình cảm, tình duyên


49 CHƯA QUA – 53 ĐÃ TỚI

CÁc tuổi 49 vÀ 53 đều cÓ cÁc sao vÀo vận hạn như sau:

- Nam tuổi 49 gặp ThÁi Bạch, tÁn tận

- Nam tuổi 53 gặp ThÁi âm vÀ Diêm Vương

- Nữ tuổi 49 gặp ThÁi âm vÀ Huỳnh Tiền

- Nữ tuổi 53 gặp ThÁi âm vÀ Thiên La
Ta cÓ câu: ThÁi Bạch sạch cửa nhÀ; tÁn tận tan gia bại sản; Diêm Vương, Huỳnh Tiền bệnh nặng, hồn quy địa phủ; ThÁi âm lÀ tang khốc tinh;
“ThÁi âm đÀn bÀ tai Ách chẳng an
Nhất lÀ sinh sản, bệnh mang hiểm nghèo”
Thiên La đề phÒng phu thê xa cÁch, lục đục
Nhưng cÓ phải cứ cÁc tuổi 49, 53 đều vận hạn như thế không? Chắc lÀ không. Chứng minh cụ thể vÀo tru7o7ng2ho75p của tôi. Tôi năm nay 61 tuổi, qua những năm 49 vÀ 53 chẳng sao cả. CÓ lẽ vì tôi than cư Phúc Đức, lại tọa chiếu Tử Phủ, SÁt, PhÁ Tham Vũ, tam hÓa nên không việc gì chăng?
CÁc bạn 49 vÀ 53 tuổi, cÁc bạn chẳng gì phải lo cho chÓng giÀ. Muốn cẩn thận,t ất cả cÁc bạn hÃy bắt đầu từ bây giờ, hÃy triệt để thực hiện c6am ngôn sau :”Đức năng thắng số” vÀ “Dĩ đức bÁo oÁn: - thì cam đoan với cÁc bạn lÀ sẽ được:”
Tiêu tai diên thọ
Thường hoạnh cÁt tường
Viễn ly khổ hải
Tiêu tan nghiệp chướng
Vận bệnh tiêu trừ”
TrÁi lại, gieo giÓ ắt gặt bÃo. Xét hiện tại khả dĩ biết được phần nÀo quÁ khứ vÀ suy ra phần nÀo tương lai (Vũ tÀi Lục)

NGƯỜI TA TUỔI NGỌ TUỔI MùI
CÒN TôI NGẬM NGùI Vì ĐỨNG TUỔI THâN

Cụ Đẩu Sơn cÓ giải thÍch về điểm:

- Tuổi Thân thuộc Kim, rất kỵ Linh hỏa, thương Sứ, dù mệnh ở cung nÀo cũng cÓ thể gặp 1 trong 4 sao trên

- Tổi Thân chỉ cÓ Nhâm Thân thuộc Kiếm Phong Kim, cÒn GiÁp Thân thuộc Tuyền Trung Thủy; BÍnh Thân thuộc Sơn hạ Hỏa; Mậu Thân thuộc Đại Trạch Thổ; canh Thân thuộc Thạch Lựu Mộc

- Sao Thiên thương bao giờ cũng ở Mộ cunug, Thiên Sứ bao giờ cũng ở Ách cung thì lÀm sao mÀ: “dù mệnh an ở cung nÀo cũng cÓ thể gặp 1 trong 4 sao trên?”
Theo tôi nhận xét, cÁc tuổi Thân bao giờ cũng cÓ Kình Dương ngộ Lực Sĩ. Phú viết:
“LÝ Quảng bất phong, Kình Dương phùng Lực Sĩ”
Vì sao Kình vÀ Lực thủ mệnh thường lÀ người giỏi giang, thÁo vÁt nhưng lận đận. Cũng vì thế mÀ ông LÝ Quảng, dù tÀi năng mÀ không được phong (Vũ TÀi Lục). hạn hÀnh Kình Dương Lực Sĩ công danh trắc trở, nếu cÓ quan chức cũng bị thải hồi vÀ nếu cÓ công trạng cũng chẳng ai biết đến (VĐTTL)

Nguồn:Một Số Tạp Chí Khoa Học Huyền Bí Trước Những Năm Giải Phóng

Hình đại diện của thành viên
Tây Đô đạo sĩ
Bát đẳng
Bát đẳng
Bài viết: 7976
Tham gia: 19:37, 19/10/10
Đến từ: Tây Đô
Liên hệ:

TL: Các bước luận đoán lá số Tử vi (sưu tầm)

Gửi bài gửi bởi Tây Đô đạo sĩ » 19:34, 02/03/12

Kinh nghiệm Tử vi của cụ Thiên Lương
SAO THIÊN MÃ TẠI MỆNH, THÂN MỘT YẾU TỐ RẤT QUAN TRỌNG ĐỂ XÁC ĐỊNH VỀ CÔNG DANH TRONG ĐỜI

Trần Việt Sơn

Có thể người học Tử vi tìm rất nhiều mà không đạt. Đó là trường hợp mà chúng tôi gặp phải. Có những lá số mà Mệnh rất tầm thường, ấy thế mà đương số lại thành đạt lớn, không biết vì đâu, trong khi điểm mọi cách khá về Mệnh, Thân mà không thấy sao Thiên Mã có tại Mạng, phải chăng vì thế mà đương số được tốt? Nhưng lấy gì chứng thực? Có hai lá số tương trợ nhau, cùng có Thiên Mã – nhưng lại chỉ có 1 đương số thành đạt. Một là số khác có Thiên Mã tại mệnh, ở Hợi: thế là Mã cùng đường, theo tất cả các sách cổ. Thế nhưng đương số này cũng thành đạt nữa. Cho nên tất phải có một cái gì đặc biệt về sao Thiên Mã, một sao rất quan trọng trong việc giải đoán Mệnh Thân, nhưng những nguyên tắc chưa được nêu ra đầy đủ.

Chúng tôi xin trình bầy sau đây kinh nghiệm của cụ Thiên lương về sao Thiên Mã tại Mệnh, Thân. Kinh nghiệm này, chúng tôi đã kiểm chứng trong một số lá số có trong tay, thấy rằng đúng.

Cách an sao Thiên Mã
Chúng ta an sao Thiên Mã theo hàng chi của tuổi
Tuổi Dần Ngọ Tuất, Thiên Mã tại Thân
Tuổi Tị, Dậu, Sửu, Thiên Mã tại Hợi
Tuổi Thân Tý Thìn, Thiên Mã tại Dần
Tuổi Hợi, Mão, Mùi, Thiên Mã tại Tỵ
Nhưng vậy tùy từng bộ ba tam hợp tuổi mà an Thiên Mã. Để cho dễ nhớ, chúng ta có từng bộ ba tam hợp tuổi, mỗi bộ ba có một Chi đứng đầu, thì Thiên Mã ở cung đối diện của Chi ấy. Thí dụ: các tuổi Dần Ngọ Tuất (có Dần đứng đầu), vậy Thiên Mã ở cung đối diện với Dần, tức là cung Thân.

Những cách thông thường về Thiên Mã
Các sách cổ giải đoán về Mã thường ghi những điểm như sau:
-Mã thuộc Hỏa, vạy là Mã tốt ở Tị, Dần và hãm ở Hợi (Thủy) Mã mà ở Hợi là hỏng, là Mã cùng đồ (ngựa hết đường chạy, ngựa ở biển thì liệt bại). Gặp Mã ở Hợi thì thất bại. Như thế chẳng lẽ cứ 3 tuổi Tị, Dậu, Sửu là đương nhiên mất sao Thiên Mã và chịu họa hại vì 3 tuổi này. Mã đóng tại Hợi. Không lẽ giản dị như vậy?
2-Mã tại Mệnh, ứng vào sự mau lẹ hay di chuyển, hay thay đổi.
Mã còn ứng vào công danh, tài lộc và phúc thọ. Thông minh và làm nên cũng là nhờ Thiên mã.
3-Tại Dần Thân, đồng cung với Tử Phủ, là Phù du Mã (ngựa vua chúa): tài giỏi, uy quyền, giầu sang, phúc thọ.
4-Thêm Nhật, Nguyệt sáng sủa là Thư hùng mã: tài ba, giầu sang, vinh hiển.
5- Gặp Lộc tồn đồng cung: công danh tốt, tài lộc tốt
6-Gặp Lộc tồn xung chiếu (Lộc Mã giao trì): công danh và tài lộc tốt đẹp.
7-Mã đồng cung Hỏa, hay Linh (chiến mã): Công danh tốt đẹp về binh nghiệp.
8-Mã khốc khách hội họp (ngựa có nhạc hay, có người cưỡi giỏi) người có tài năng, có công danh về binh nghiệp.
9-Mã Hình đồng cung: gặp tai họa
10- Mã Đà đồng cung: chiết túc mã, ngựa què. Công danh gãy đổ (kinh nghiệm của cụ Ba La: người tuổi Âm, Kình ở trước lộc tồn, Đà ở sau Lộc tồn, nhưng theo chiều nghịch).
11- Mã Tuyệt đồng cung là cùng đồ Mã. Mã tại Hợi cũng là cùng đồ Mã: hỏng, suy bại, gặp tai họa.

Đi tìm ảnh hưởng của Mã
Cũng như đối với mọi sao quan trọng, cụ Thiên lương đã luận về Thiên Mã bằng cách lấy hành của cung Mệnh, hành của sao Thiên Mã và hành Mệnh của đương số mà so sánh với nhau rồi quyết định sự hay dở. Đó là giai đoạn đầu để tìm kinh nghiệm. Giải đoạn sau là kiểm chứng, áp dụng các kết quả của những suy luận vào những lá số có Thiên mã tại Mệnh, Thân để tìm xem có đúng không.

Nhưng trước hết, xin ghi rằng Thiên Mã đây là tại Mệnh và Thân. Thiên mã ở Quan lộc hay Tài bạch cũng có ảnh hưởng vào mệnh (vì hai cung này chiếu mệnh), nhưng ảnh hưởng kém hơn Thiên Mã tại Mệnh. Nếu Thiên Mã ở cung Thiên Di, thì lại không kể vào mệnh là vì Mã tại Thiên Di là xung chiếu chứ không phải hợp chiếu.

Thiên Mã tại cung Dần
Thiên Mã hỏa, ở cung Dần Mộc là được Mộc sinh Hỏa, Thiên Mã mạnh và tốt. Nhưng cái mạnh và tốt này không phải cho bất cứ mạng nào.

Như người mạng Kim, thì càng bị Hỏa khắc, không lợi. Người mạng Thủy cũng không được lợi lộc gì, vì cái Thủy đó không thắng nổi cái Hỏa đương vượng của Mã. Mã hỏa ở đây có thể lợi cho người mạng Hỏa và càng hợp với người mạng Mộc. Người ta thường cho rằng mạng Mộc mà gặp Hỏa, thì bị hỏa đốt cháy, nhưng mạng là Mộc, cung Mạng lại ở Dần tức là tại Mộc thì không e ngại gì, tài năng nhờ chỗ Mã được nuôi dưỡng (do Mộc) mà càng vượng lên.

Vậy Mã tại Dần:
-Rất tốt cho người mạng Mộc
-Lợi cho người mạng Hỏa
-Không lợi gì cho người mạng Kim, Thổ và Thủy.

Thiên Mã tại cung Tị
Thiên Mã đứng đây cũng tốt vì là Hỏa ở cung Hỏa. Mã ở đây là con ngựa chiến. Mã là Hỏa, cung là Hỏa, thì người Mộc gặp Mã và cung Mạng tại đây, tuyệt nhiên là không tốt (hai cái Hỏa đốt cháy thân xác). Người mạng Kim, không được tốt, vì hai cái hỏa đều khắc Kim. Người mạng Thủy, cũng không được hưởng gì, vì Thủy yếu, không thể ngự được cái Hỏa của Mã (nếu kể như trường hợp Mã gây họa hại), còn bình thường, Mã không gây họa hại vì người Thủy cũng không được hưởng.
Chỉ có người Hỏa được hưởng cái tốt của Mã tại Tị.

Thiên Mã tại cung Thân
Thiên Mã là Hỏa, ở tại cung Thân là Kim, ấy là Thiên Mã đã kém. Thiên Mã không bị khắc là Thiên Mã mạnh, và tốt nhưng Thiên Mã lại khắc Kim.

Nếu là người mạng Mộc, thì mạng này vừa bị Hỏa đốt, vừa bị cung khắc, không được lợi lạc gì. Người mạng Thủy đỡ được chút đỉnh, nhờ cung Kim sinh Thủy, và cái mạng Thủy của mình còn khá mạnh để chế ngự lại Mã. Người mạng Kim là ăn nhất về con Mã tại cung Kim, nhưng vì Mã Hỏa khắc Kim mạng, cho nên mình tuy được hưởng Mã mà có tài năng, nghị lực, nhưng mình lại bị khắc, thì sức khỏe của mình cũng phải bị hao tổn.
Vậy Mã tại Thân:
-Tốt cho người Kim
-Khá cho người Thủy
-Không lợi gì cho người Mộc và Hỏa

Thiên Mã tại cung Hợi
Thiên Mã là Hỏa, ở cung Hợi Thủy, thì Hỏa phải bế khắc (ấy là Mã cùng đồ, Mã đến biển là hết đường chạy).

Người Hỏa mà gặp Mã ở cung hợi thì chẳng được lợi lạc chi. Người Kim gặp Mã ở cung Hợi cũng vậy, có khi còn mệt hơn, là vì mạng mình bị sinh xuất, còn bị hỏa của Mã khắc. Nhưng người Thủy lại khác: xét ra người Thủy lại có mạng ở Thủy, thì cái Thủy này rất mạnh, có thể chế ngự được những cái họa hại của Mã mà thắng được Mã, tức là có tài ba để thắng. Người Mộc nhờ có cung Thủy sinh Mộc, mà được lợi phần nào.
Vậy Mã tại Hợi:
-Tốt cho người Thủy
-Khá cho người Mộc
-Không lợi gì cho người Hỏa và Kim

Còn người mạng Thổ
Vậy tóm lại, Mã ở cung có hành nào, thì người nào mạng có hành đó là được hưởng.
Mã tại cung Mộc (Dần) người mạng Mộc hưởng
Mã tại cung Hỏa (Tị) người mạng Hỏa hưởng
Mã tại cung Kim (thân) người mạng Kim hưởng
Mã tại cung Thủy (Hợi) người mạng Thủy hưởng
Thế còn người mạng Thổ? Xin thưa rằng người mạng Thổ cũng hưởng được Thiên Mã ở cung Thủy (tại Hợi)

Một thí dụ
Lá số Khổng Minh, Mã ở Hợi Thủy (cung Quan). Khổng Minh mạng Mộc, cho nên không được hưởng trọn con Mã này. Nhưng Thủy dưỡng cho Mộc, nên Khổng Minh cũng chỉ được hưởng Mã một phần.

Mã ngộ Triệt và Mã ngộ Tuần
Mã gặp Triệt trấn ngay cung thì hỏng cả
Mã ngộ Tuần còn đỡ hơn.
Sau đây là kinh nghiệm đặc biệt về Mã ngộ Tuần. Sao Tuần ở những vị trí Tí Sửu Dần Mão, Thìn Tị, Ngọ Mùi, Thân Dậu, Tuất Hợi, và có thể được coi là sao đánh dấu một giai đoạn để chuyển sang giai đoạn khác.

Do đấy, nếu sao Thiên mã ngộ Tuần, chúng ta đoán thêm như sau:
1-Thiên Mã tại Hợi (Thủy) gặp Tuần ngay tại đó người mạng Mộc cũng được hưởng (thông mình, lanh lợi, học hành, công danh, tài lộc) nhưng hưởng chậm, phải gặp nhiều khó khăn lúc đầu và phải có tranh đấu cố gắng nhiều.
2-Thiên Mã tại Dần (Mộc) gặp Tuần tại đó: người mạng Hỏa cũng được hưởng nhưng chậm và có những khó khăn lúc đầu, phải cố gắng nhiều mới đạt được.
3-Thiên Mã tại Tị (Hỏa) gặp Tuần tại đó: người mạng Kim cũng được hưởng, nhưng chậm, gặp khó lúc đầu và phải cố gắng nhiều mới đạt được
4-Thiên Mã tại Thân (Kim) gặp Tuần tại đó: Người mạng Thủy và Thổ cũng được hưởng, nhưng chậm gặp khó lúc đầu và phải cố gắng nhiều mới đạt được.
Thí dụ tuổi Kỷ tị, mạng Mộc, Thiên Mã tị Hợi, gặp Tuần tại Tuất Hợi, cung Mạng cũng tại Hợi: người này cũng được hưởng Thiên Mã, nhưng hưởng chậm, lúc đầu gặp khó, phải cố gắng nhiều sau mới đạt thành.

Nguồn:Một Số Tạp Chí Khoa Học Huyền Bí Trước Những Năm Giải Phóng

Hình đại diện của thành viên
Tây Đô đạo sĩ
Bát đẳng
Bát đẳng
Bài viết: 7976
Tham gia: 19:37, 19/10/10
Đến từ: Tây Đô
Liên hệ:

TL: Các bước luận đoán lá số Tử vi (sưu tầm)

Gửi bài gửi bởi Tây Đô đạo sĩ » 16:35, 03/03/12

TÌM HIỂU PHÚ TỬ VI
Phong Nguyên

Cách: Quân dân sủng ái
Cách: Ích Tử Vượng Phu
Cách: Thiếu niên Tân khổ

Hôm nay tôi lại xin tiếp tục thảo luận về phÚ tử vi sau khi đã gián đoạn một vài kỳ vÌ có một số độc giả đã tha thiết yêu cầu tôi sớm trả lời hoặc viết về một vài khÍa cạnh khác. Vậy quý bạn nào đang theo dõi loạt bài về phÚ tử vi xin thông cảm cho tôi.

HOá KỴ Tý CUNG KHOA LƯƠNG PHỤ CHIẾU, ĐẮC QUâN DâN SỦNG áI

Giải nghĩa: Mệnh an tại Tý có Hoá Kỵ tọa thủ và Hoá Khoa, Thiên Lương hội họp thÌ được rất nhiều người quý mến, ngưỡng mộ. Có sách chép là “ChÚng nhân tôn phục” thay vÌ “Đắc quân dân sủng ái”, nhưng sự khác biệt đó cũng không quan trọng lắm vÌ đại để cũng chỉ đề cập đến số người đông đảo mà thôi .

Nhận xét: Ngoại trừ ở cung Điền hoặc Tài, Hóa Kỵ thường bị coi là xấu cho nên trong trường hợp này thiết tưởng ta cũng không nên có thành kiến về Hoá Kỵ quá mức mà quên lãng đi một ưu điểm Ít có về sao trên. Tuy nhiên quý bạn cần lưu ý:

Điều tiên quyết là Mệnh phải ở cung Tý mới ứng nghiệm. Dù ở cung Ngọ là cung xung chiếu cũng không áp dụng được. Về lý do tại sao chỉ đặt trường hợp cung Tý tôi chưa tÌm hiểu được, nhưng về sự ứng nghiệm tôi có thề đoan chắc với quý bạn.

Điểm cần thiết thứ hai là chỉ có Hoá Khoa và Thiên Lương mới sử dụng được Hóa Kỵ hữu hiệu nghĩa là không thể lấy Hoá Quyền, Hoá Lộc hoặc Khôi Việt để thay thế cho Hoá Khoa, lấy Thiên Phủ, Thiên Tướng để thay thế Thiên Lương . Điều này cũng chẳng có gÌ lạ lùng vÌ Hoá Khoa mới tượng trưng cho thông minh, tháo vát và Thiên Lương mới chủ về người biết ăn nói (những nhà mô phạm, du thuyết thường có sao này) do đó 2 sao này phối hợp với nhau đủ khả năng sử dụng Hoá Kỵ tượng trưng cho cái lưỡi, tức là sự ăn nói nên mới được nhiều người ngưỡng mộ chứ không phải nhờ khÍa cạnh nào khác, cho nên mới cần phải có Khoa Lương là các sao rất phù hợp với lãnh vực này. VÌ vậy nếu gặp Thiên Phủ chẳng hạn thÌ đương số ăn nói lÚng tÚng, chẳng ra lời lẽ gÌ cả vÌ Thiên Phủ chủ về bệ vệ khoan thai, chậm rãi thÌ làm sao dùng được sao Hoá Kỵ. Nếu gặp sao Thất Sát lại còn tệ hơn vÌ sao này chủ về võ chứ không dÍnh dấp gÌ đến văn, cho nên khi gặp Hoá Kỵ thÌ đương số ăn nói lỗ mãng, dữ dằn, thiếu tế nhị, nhất là khi thiếu Hoá Khoa thÌ lại càng tệ hơn nữa, khi đó thÌ làm sao còn được ai ngưỡng mộ nữa . Trường hợp gặp Tham Lang tuy không trở thành người du thuyết được nhưng cũng có thể là người khéo ăn khéo nói dễ thuyết phục người khác một cách riêng tư vÌ Tham Lang dù sao cũng chủ về khôn ngoan, lanh lợi, mặc dù đương số có thể thất bại khi đứng trước quần chÚng đông đảo .

Câu phÚ đã nêu ra một cách hợp lý là Khoa Lương phụ chiếu, chứ không phải đồng cung với Hoá kỵ. Thực thế, nếu quý bạn coi lại cách an Hoá Kỵ thÌ sẽ thấy rằng không mấy khi Hoá Kỵ lại đồng cung với Thiên Lương, trừ trường hợp tuổi Kỷ thÌ vÌ Hoá Kỵ đồng cung với Văn KhÚc cho nên có thể đồng cung với Thiên Lương ( vÌ Văn KhÚc có thể đồng cung với Thiên Lương ). Đối với Hoá Khoa cũng vậy, rất Ít có trường hợp Hóa Kỵ đồng cung với sao đó.

Tuy câu phÚ trên có nêu ra tổng quát là cứ có Khoa Lương là “xài” được Hoá Kỵ , nhưng thực ra chỉ có một số tuổi là hy vọng gập, còn một số tuổi khác không bao giờ được hưởng cách trên. Nếu quý bạn chịu khó ngồi lập ra đủ 10 trường hợp tuổi theo hàng Can (và cách an sao Hoá Kỵ phải theo Can) và sao khác thÌ sẽ thấy chỉ có tuổi Giáp, Ất, Mậu là hay gặp Khoa Lương phụ chiếu Hoá Kỵ còn các tuổi Đinh , Nhâm , Quý thÌ đừng bao giờ hy vọng được hưởng cách trên .


VĂN XƯƠNG TÍNH THANH THẢ KHIẾT TỬ ÍCH PHU SƯƠNG

Giải nghĩa: Câu này chỉ áp dụng cho phụ nữ và có nghĩa là đàn bà cung Mệnh có Văn Xương tọa thủ thÌ tÍnh tÌnh tao nhã và vượng phu Ích tử.

Nhận xét: Nếu ta chỉ biết câu này thôi thÌ thiết tưởng chẳng có gÌ đáng nói, nhưng nếu ta đọc tới câu “Nữ nhân Xương KhÚc thông minh phÚ quý đa dâm” liệu ta còn dám nghĩ rằng người đàn bà đó có đáng gọi là “tao nhân” hay “vượng phu Ích tử” chăng? Thực ra hai câu phÚ này đều ứng nghiệm cả, miễn là ta phải chÚ ý tới các sao khác:

Nếu có thêm Đào, Riêu, Mộc, Cái thÌ chắc chắn vấn đề tao nhã và vượng phu Ích tử không còn đặt ra được nữa mà phải nhường chỗ cho “đa dâm”. Dù cho trường hợp này có Thiên Phủ, Nguyệt đức, Khôi, Việt…cũng vẫn còn tÍnh xấu đó, nhưng bề ngoài hơi khó nhận thấy.

Nếu vắng hẳn bộ sao “ướt át” kể trên và lại có Hóa Quyền, Khôi, Việt hoặc Thiên Phủ, Thiên HÌnh…ta có thể đoán chắc là đương số thuộc trường hợp câu phÚ thứ nhất, nghĩa là nết hạnh, đoan trang, vượng phu Ích tử.

Sau hết tôi cần nhắc lại (điều này tôi đã nêu ra đôi ba lần) là vào thời đại văn minh tiến bộ, hai sao Xương KhÚc của phụ nữ đã có môi trường thÍch hợp giống như đối với phái nam nghĩa là phụ nữ có hoàn cảnh được ăn học cho tới cao khoa, cho nên khÍa cạnh “đa dâm” đã bị vô hiệu hóa rất nhiều, và do đó nhiều khi chỉ cần tránh được Đào, Riêu, Mộc, Cái là đủ đứng đắn chứ khỏi cần thêm Thiên Phủ, Hóa quyền…như đã nói trên. Đối với phụ nữ thời phong kiến có thể nhóm sao sau này vẫn còn cần thiết để áp đảo được tÍnh lãng mạn, lẳng lơ đi.

TUẦN TRIỆT ĐƯƠNG ĐẦU THIẾU NIêN TâN KHỔ

[b]Giải nghĩa: Theo ý kiến của đa số những nhà Tử vi thÌ “đương đầu” có nghĩa là án ngữ ngay tại Mệnh, nhưng theo một vài “cây” Tử vi thÌ Tuần Triệt ở cung xung chiếu hoặc tam hợp với Mệnh cũng phải coi là đương đầu. Còn về ý nghĩa cả câu thiết tưởng không cần phải nêu ra vÌ đã quá rõ ràng.
[b]
Nhận xét: Chắc có bạn mỉm cười khi thấy tôi nêu ra câu phÚ đã quá quen thuộc và dễ hiểu, nhưng thực ra có một vài khÚc mắc mà quý bạn không thể coi thường được:

Nếu chỉ chấp nhận trường hợp Tuần Triệt án ngữ ngay tại Mệnh mới gọi là “đương đầu” quý bạn vẫn phải phân biệt khi Mệnh có chÍnh tinh và Mệnh Vô chÍnh diệu. Trường hợp có chÍnh tinh bị Tuần Triệt án ngữ không phải lÚc nào cũng tai hại vÌ thực ra chỉ có Tử Phủ, Thiên Tướng, Cơ Lương, Vũ khÚc là sợ Tuần Triệt nhất, còn Thất sát nếu hãm địa lại gặp Triệt (hay hơn là Tuần) thÌ trái lại trở nên tốt đẹp hữu hiệu vô cùng, nhưng lẽ tất nhiên nếu Thất Sát đắc địa thÌ phải tránh Tuần mới hay. Còn trường hợp Mệnh vô chÍnh diệu gặp Tuần Triệt án ngữ cũng đừng vội cho là hay mà phải để ý xem có nhiều trung tinh tốt đẹp tọa thủ hay không. Nếu có thÌ cần tránh Tuần, Triệt (nhất là Triệt) vÌ Tuần bao vây không cho trong ngoài liên lạc được với nhau để phát huy khả năng phối hợp, còn Triệt thÌ chặt gẫy phá vỡ mọi sao hay khiến cho mất hẳn yếu tố tốt có sẵn tại Mệnh và các sao bên ngoài chiếu về không cứu vãn nổi. Trường hợp không có trung tinh tốt thÌ chỉ kỵ mỗi Tuần mà không sợ Triệt vÌ Mệnh xấu mà còn không nhờ cậy gÌ được các sao tại các cung tam hợp (bị Tuần bao kÍn không vào được) sẽ khiến cho đương số thực sự “tân khổ”, trong khi Triệt án ngữ lại thuận lợi vÌ không những phá được những yếu tố xấu tại Mệnh mà lại còn không cản trở sự trợ giÚp bên ngoài.

Nếu chấp nhận Tuần, Triệt ở cung xung chiếu hoặc tam hợp cũng gọi là “đương đầu” chắc có bạn thắc mắc không hiểu tại sao Tuần, Triệt chỉ chiếu cũng gây ảnh hưởng mạnh mẽ như án ngữ. Điều này rất dễ hiểu vÌ có bao giờ ta chỉ căn cứ vào nguyên cung Mệnh để giải đoán mà trái lại luôn luôn phải kết hợp với các sao khác ở các cung tam hợp và nhất là ở cung xung chiếu. Do đó, tỷ dụ như Mệnh có Tử Phủ (Dần, Thân) rất cần có Vũ Tướng và các bộ trung tinh khác (như Tả Hữu, Thai Tọa, Khôi Việt…) mới thành cách quần thần khánh hội, như vậy nếu các sao này ở ngoài lại bị Tuần, Triệt án ngữ thÌ làm sao kết hợp được với Tử Phủ khiến cho hai sao này bị cô đơn, vô hiệu lực, thành ra vấn đề “tân khổ” thiết tưởng cũng rất hợp lý. Ngay cả với trường hợp Mệnh vô chÍnh diệu cũng vậy, bất luận có trung tinh tốt tại Mệnh hay không cũng cần phải có sự hỗ trợ bên ngoài, không khác gÌ một nước chạm tiến cần viện trợ của nước ngoài, nếu bị Tuần, Triệt ngăn trở thÌ làm sao còn có chỗ nương tựa, khiến cho đã xấu còn xấu thêm. Tai hại hơn cả trường hợp có chÍnh tinh nhiều. Quý bạn nào mệnh vô chÍnh diệu ở trong trường hợp sẽ cảm thấy “đương đầu” theo cách chiếu cũng hiệu nghiệm vô cùng.

Sau hết, có một điểm nhiều nhà Tử vi thắc mắc là tại sao Tuần, Triệt đương đầu (dù án ngữ tại Mệnh hay ở các cung tam hợp) chỉ hành hạ lÚc “thiếu niên” chứ tuyệt nhiên không gây trở ngại cho tuổi từ trung tuần trở đi. Có vị cho rằng Triệt từ 30 tuổi sẽ yếu đi nhưng nếu nói đến “Tuần” thÌ hơi khó trả lời vÌ Tuần có ảnh hưởng suốt cả đời hoặc mạnh mẽ từ 30 tuổi trở đi. Có vị thÌ lý luận rằng lÚc Ít tuổi chịu ảnh hưởng của Đại hạn đầu tiên tức là bị Tuần Triệt chi phối vÌ Đại hạn đầu nằm tại Mệnh, nhưng qua Đại hạn kế tiếp tránh được Tuần, Triệt rồi và tuổi còn trẻ mà sao vẫn “tân khổ” (trường hợp Tuần, Triệt án ngữ tại Mệnh còn có lý vÌ hai sao đó đè lên 2 cung, nhưng trường hợp ở các cung tam hợp hoặc xung chiếu thÌ đâu còn ảnh hưởng gÌ cho Đại hạn kế tiếp). Riêng tôi, tôi cũng không sao tÌm hiểu nổi, vậy chỉ còn biết trông chờ các bậc uyên thâm Tử vi giải đáp giÚp.

[b]KHHB số 74L1
[/b][/b][/b]

Hình đại diện của thành viên
Tây Đô đạo sĩ
Bát đẳng
Bát đẳng
Bài viết: 7976
Tham gia: 19:37, 19/10/10
Đến từ: Tây Đô
Liên hệ:

TL: Các bước luận đoán lá số Tử vi (sưu tầm)

Gửi bài gửi bởi Tây Đô đạo sĩ » 15:18, 04/03/12

10 kinh nghiệm sát thủ của Tử vi
Giáo sư Lê Trung Hưng

Sách Tử vi mỗi ngày càng nhiều nhưng ý nghĩa các Sao vẫn thấy không thấy thêm ra, chỉ quanh quẩn trên nhưng câu Phú với ý nghĩa mơ hồ, nhiều khi đặt để ở một trạng thái gán ghép thành ra làm nản chí những người ham học hỏi Tử-vi không ít. Trong chiều hướng phải làm sao sáng tỏ cho ngành học lý đoán cổ truyền này, những công trình nào dù bé nhỏ tới đâu, nếu đem phổ biến một cách trung thực và nhiệt thành, thiết tưởng cũng là một nỗ lực khách quan nhất của người tri thiên mệnh để xây dựng xã hội. Học phái Thiên Lương xin lại mạn phép chư vị quân tử trình làng Tử vi “Mười Kinh nghiệm” được coi là những đòn sát thủ trên mỗi bản số Tử-vi để cùng nhau chiêm nghiệm :
1.Sinh bất phùng thời: Hạn Thái tuế vô chính diệu
2.Đồng bệnh tương lân: Hình, Riêu, Không Kiếp
3.Đời là bể khổ: cung ách
4.Công ơn tổ phụ: cung Phúc đức vô chính diệu
5.Đen như mõm chó: Cung quan lộc vô chính diệu
6.Làm thân trâu ngựa: Thế tương quan giữa cung Thân Mệnh và cung Nô bộc
7.Trắng tay sự nghiệp: Hạn Thiên không ở tứ mộ
8.Sớm đầu tối đánh: Nhận diện nhóm hung tinh chiến lược Kình, Đà, Linh, Hỏa, Không, Kiếp.
9.Được làm vua thua làm giặc: Người Tỵ, Dậu, Sửu với sao Phá toái.
10.Anh hùng tạo thời thế: Luận bốn mẫu người Tử sát, Tử tướng, Tử phủ và Tử Phá.
Bây giờ xin vào chi tiết

1- Sinh bất phùng thời :

Mỗi bản số đều được hưởng 10 năm thuận lợi, đắc ý nhất ở cung Tam hạp với Sao Thái Tuế (được gọi là vòng Thái Tuế).

Thí dụ : Người tuổi Tỵ, vậy khi đến hạn 10 năm ở một trong ba cung Tỵ, Dậu, Sửu là được hưởng vòng Thái Tuế. Nhưng có 01 điều cân nhắc cận thận về cường độ của sự thoải mãi, nghĩa là xem, đắc ý tới mực nào, thì phải xem xét cung Mệnh (và cả cung an Thân) có chính diệu tọa thủ hay không, đồng thời cung nhập hạn của vòng Thái Tuế có chính diệu hay không ?. Sự đắc thắng vẻ vang hay chiến thắng trong gian lao là tùy thuộc vào các điều kiện sau đây :
•Cung Mệnh (và cung an Thân) có Chính diệu hãm địa, hạn gặp vòng Thái Tuế ở cung Vô Chính diệu thì chỉ đắc lợi một cách tương đối.
•Cung Mệnh (và cung an Thân) có Chính diệu đắc địa, hạn gặp vòng Thái Tuế ở cung Vô Chính diệu thì chỉ đắc lợi trung bình.
•Cung Mệnh (và cung an Thân) Vô Chính diệu, hạn gặp vòng Thái Tuế ở cung Vô Chính diệu thì vẻ vang trong gian khổ, sinh bất phùng thời.
•Cung Mệnh (và cung an Thân) Vô Chính diệu, hạn gặp vòng Thái Tuế ở cung có Chính diệu tọa thủ (nhất là bộ Sát, Phá , Tham) thì chiến thắng rạng rỡ huy hoàng đắc lợi như ý muốn.
•Trường hợp Cung Mệnh trùng hợp với ngay cung của vòng Thái Tuế không tốt bằng cung an Thân trùng hợp với cung của vòng Thái Tuế (vì Thân chủ về hành động, còn Mệnh là lý thuyết và tư tưởng, nên chỉ có làm mới có hưởng, tay có làm thì hàm mới có nhai ! )

2- Đồng bệnh tương lân :

Trong những tai nạn cộng đồng, nghĩa là nhiều người vướng vào vòng hoạn nạn cùng một lúc và bởi một nguyên do (Thí dụ : tai nạn rớt máy bay làm nhiều người chết ... ) Tử vi đã trở lên nghi vấn trong cách giải thích trường hợp khó khăn và tế nhị này ? Tuy nhiên, nếu đem đối chiếu với những lá số thiệt mạng (hay chỉ mang thương tích) trong tai nạn cộng đồng, thì khi dùng phép quy nạp đã cho thấy nét tương đồng kể sau :

- Tam hợp với cung Mệnh có Thiên Hình, Thiên Riêu, Địa Không và Địa Kiếp (hay tam hợp của cung Ách )

- Cung Ách có Thất Sát, Phá Quân hay Tham Lang (Hay cung Mệnh có cách này)

- Tiểu Vận (một năm) hay Đại Hạn (10 năm) vào vòng tam hạp của Thiên Không (Thiếu Dương - Tử Phù và Phúc Đức)

Hầu hết những người có cách trên đều phải nếm qua mùi vị của " Đồng Mệnh tương lân " : Việc xảy ra nếu có người chết, kẻ chỉ bị thương, là còn do cung Phúc Đức chi phối, dù thế nào đi chăng nữa thì cũng phải cộng đồng tai ách. Chắc chắn không ai dám kiểm chứng trường hợp này, bằng cách tập hợp tất cả các cá nhân có Hình-Riêu-Không- Kiếp ở Mệnh (và Ách cung là thế Sát Phá Tham), nhưng nếu quý vị nào chịu khó sưu tập những lá số có có tiêu chuẩn vừa nói, thì sẽ thấy ngay cá nhân của bản số đều vướng phải chuyện xui xẻo này một lần trong đời của họ.

3- Đời là bể khổ : Cung Ách

Thế nhị hợp của cung Ách với hai cung Mệnh, Thân đã nói lên rõ ràng cái nghiệp mà nhà Phật chủ trương .

- Mệnh, Thân sinh phò Ách cung , là ta phải lãnh đủ mọi chuyện do ta đã làm. Cá nhân phải trực tiếp chịu ảnh hưởng cái hậu quả của việc ta đã tạo ra trong đời sống hằng ngày (gieo nhân nào, gặt quả ấy). Đây là giai đoạn tạo nghiệp mà Nguyễn Du tiền bối đã nói : "Thiện căn ở tại lòng ta"

- Ách cung sinh phò Mệnh, Thân là bản thân ta ở kiếp này phải hứng chịu nhiều những hậu quả truyền kiếp (do dòng họ tiền nhân để lại, cũng có thể là do đời sống ta kiếp trước để lại) Cho nên, trong chuyện Kiều có câu ứng :
Đã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng có trách lẫn trời gần trời xa.

- Mệnh,Thân sinh phò Ách cung là khi nào hành Tam hợp của cung Mệnh, Thân sinh ra hành của Tam hợp cung Ách (Ví dụ: Mệnh ở cung Dậu, vậy hành của Tam hợp Tỵ Dậu Sửu là Kim. Ách ở cung Thìn, vậy hành của Tam hợp Thân Tý Thìn là Thủy. Tam hợp Mệnh là Kim đã sinh phò tam hợp Ách là Thủy). Còn Ách cung sinh phò Mệnh, Thân cũng tính như cách vừa nói (Ví dụ : Ách ở cung Tỵ thuộc Tam hợp là hành Kim. Cung an Thân ở ngay cung Thân thuộc Tam hợp Thủy, do đó Ách (Kim) sinh xuất ra Thân (Thủy)

Mặt khác, đã gọi cung Tật Ách, thì chỉ được hiểu là những nghiệp xấu tích lũy tích tụ lại (còn nghiệp tốt tích tụ ở cung Phúc-Đức mới đúng nghĩa của nó) thành ra không bao giờ Đại Tiểu hạn đến cung Tật Ách mà người ta thấy thoải mái đắc ý được (sách xưa ghi đơn sơ : hạn Thiên Sứ xấu, chính là ẩn ý vậy). Đã biết cung Tật Ách xấu, và hiểu là những tai nạn cho mỗi bản số trong kiếp đang sống, thiết tưởng phải lưu ý hai bộ mặt của cung Ách :

- Ách cung thuộc cách Sát Phá Tham là hay bị ngoại thương, chủ về sự sát phạt tích cự mau lẹ.

- Ách cung thuộc cách Cơ Nguyệt Đồng Lương, Tử Phủ Vũ Tướng chủ về nội thương, các tai họa có tính cách gậm nhấm, tiêu hao dần mòn ...

4- Công ơn Tổ-Phụ :

Nếu cung Ách tiêu biểu cho nghiệp xấu, thì cung Phúc Đức tượng trưng cho nghiệp tốt. Có điều cần phải nhấn mạnh là : nghiệp tốt với những cường độ khác nhau (phước mỏng hay phước dày là thế). Đa số sách Tử-vi đều hời hợt ghi chú :”Sao Mộ ở cung Phúc Đức là cách tốt đẹp”. Tôi thấy điều này trái hẳn với ý nghĩa Tăng–Trưởng–Hủy–Diệt của vòng Tràng Sinh (phải hiểu là 12 giai đoạn của một kiếp sống , chứ không phải là 12 sao: Tràng Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai và Dưỡng, được đa số nhìn như những tinh đẩu riêng biệt là một điều lầm lẫn lớn).

Cung Phúc Đức bản chất là một kho tích tụ những may mắn cho một đời người, nếu nó có sao Mộ đóng, tức là có nghĩa : giai đọan may mắn đã chìm sâu trong bóng tối một cách dễ hiểu hơn hơn là không còn hên nữa. Phúc Đức ở giai đoạn của Thai, của Dưỡng của Trường Sinh … là cách tốt đẹp khả quan nó biểu hiện cho những tiềm lực dồi dào, tài nguyên “may mắn” còn phong phú, còn tiềm tàng …

Ngoài ra, một kinh nghiệm khác về cung Phúc Đức, là khi nào cung này Vô Chính Diệu , được Thái Dương, Thái Âm (đắc địa) ở thế Tam Hợp hội nhập chiếu sáng rõ ràng một đời “Họa bất trùng lai, phước vô đơn chí”

Ví dụ : Cung Phúc Đức Vô Chính Diệu ở cung Mùi, có Thái Dương ở cung Mão, có Thái Âm ở cung Hợi chiếu sáng. Sách xưa có ghi “Nhật Nguyệt chiếu hư không chi địa” là một đời có nghĩa “ Bao nhiêu hạnh phúc ở trần gian, trời đã dành riêng để tặng … lá số “. Thiên địa hòa mình thì nhân sự thanh bình vậy.

5- Đen như mõm chó

Sống là phải tranh đấu, nhất là đối với những ai còn chủ trương : Có trung hiếu nên đứng trong trời đất, không công danh thà nát với cỏ cây (Nguyễn Công Trứ), thì cung Quan Lộc phải kể là quan trọng đối với đấng ”mày râu” (Riêng đối với phái đẹp, thì tác giả Vân Đằng Thái Thứ Lang đã bàn rõ cách Thân cư Quan Lộc có Tuần-Triệt án ngữ, xin miễn bàn nhiều !) Các cách tốt xấu của chính tinh ở Quan Lộc đã có nhiều sách giải rất chi tiết, nhưng khi cung này Vô Chính Diệu thì sao ? Xin thưa ngay rằng : Đen như mõm chó. Cổ nhân nói câu thành ngữ này là có ý diễn tả cái cảnh bấp bênh, cái tráo trở, cái bất hạnh, cái long đong … của con người. Cung Quan Lộc Vô Chính Diệu là một trạng thái bi đát, mà cụ Uy Viễn Tướng Công đã cay cú :

– Người trần thế muốn nhàn sao được ?
Nói dễ hiểu hơn : Công danh sự nghiệp, thăng trầm vật vờ như phù vân. Kể cả trường hợp được Nhật Nguyệt chiếu sáng thì cũng chỉ là cái thế của Quân Sư quạt mo, phò người để còn có mình, khí cái gốc nương nhờ sụp đổ thì ta còn gì, ngoài ý nghĩa “ký sinh nhân” ?

6- Làm thân trâu ngựa
Người biết coi số Tử-Vi đều ngán ngẫm nhóm sao tráo trở và thủ đọan là : Tả, Hữu, Không, Kiếp, Phục Binh, Kình, Đà …(được coi là nhóm hung tinh chiến lược) đóng ở cung Nô.
Trong bản số Tử-Vi thế nhị hợp của cung Thân, Mệnh và cung Nô cũng phải lưu ý nhóm sao dữ kể trên đóng ở vị trí nào :

– Nếu Tam hợp cung Thân – Mệnh có hành sinh xuất tam hợp cung Nô, mà cung Nô chứa bộ hung tinh chiến lược thì có nghĩa là làm ơn mắc óan, hữu công vô lao, bạn bè chỉ là hạng bất nhân luôn luôn tìm cách trục lợi mình, sang thì tìm đến, khó thì tìm lui. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tả óan :
Còn bạc còn tiền còn để tử
Hết cơm hết gạo hết ông tôi
Ví dụ : Cung Thân ở cung Hợi (thuộc Hợi Mão Mùi là Mộc), Cung Nô ở cung Dần (thuộc Dần Ngọ Tuất là Hỏa). Vậy là cái ta Mộc sinh xuất cho cái Nô Hỏa.

– Nếu tam hợp cung Thân- Mệnh được hành sinh nhập bởi tam hợp của cung Nô, mà cung Nô cũng chứa bộ hung tinh chiến lược, lại có nghĩa thâm thúy như sau : Bạn Bè, thuộc hạ của ta tuy là hạng đầu trâu mặt ngựa, đối với người khác là sự phản bội nhưng đối với ta vẫn trung thành phục vụ , đem hết sức khuyển mã để phụng sự ta.
Ví dụ : Nô Bộc ở cung Hợi (thuộc tam hợp Mộc) sinh nhập cho Thân ở cung Dần (thuộc tam hợp Hỏa). Những thầy phù thủy, thầy pháp cao tay ấn đều có cách này.

7- Trắng tay sự nghiệp

Đại, Tiểu Hạn trùng phùng, đáng sợ nhất của lá số Tử-Vi là Đại hạn 10 năm đóng tại một trong ba cung có sao : Thiếu Dương, Tử Phù, Phúc Đức (đỡ vất vả nhất) và Tiểu vận một năm cũng nằm trên một trong ba cung có sao vừa nói, (gọi là hạn Thiên Không, sẽ gặp số không ở cuối đường hầm). Cụ Thiên Lương chủ trương học Tử-Vi phải có lòng thành khẩn và can đảm mà gồng mình chịu đựng :

– Khi sao Thiên Không đóng ở Tứ Mộ (bốn cung Thìn Tuất Sửi Mùi ) nghĩa là không có trường hợp Đào Hoa, Thiên Không (xảo trá, mưu mô) và cũng không có trường hợp Hồng Loan Thiên Không (xuất tăng tầm đạo ) chỉ có một GRANĐ-ZEZÔ. Vậy khi nào hạn Thiên Không (vòng của Thiếu Dương, Tử Phù, Phúc Đức) nhập Mộ cung, thì kể như trắng tay sự nghiệp (nhất là khi Mệnh, Thân thuộc cách Cơ Nguyệt Đồng Lương, mà Đại Tiểu hạn trùng phùng là Sát Phá Tham cách) may mắn lắm bản thân mới còn, đa số đều ôm hận ngút trời, mà về cõi ta bà Âm Phủ

8- Sớm đầu tối đánh:

Sáu sao Kình Dương, Đà La, Địa Kiếp, Địa Không, Hỏa Tinh và Linh Tinh. Tuy bản chất hung dữ nhưng có nhiều nét dị biệt cần phải bám sát vào ba đặc tính kể sau để nhận diện :

– Kình Dương và Đà La thuộc loại Sát tinh hữu dõng vô mưu, tuy tác hại nhưng còn chiêu hồi được. Nói cách khác, khi nó hãm địa là những bộ mặt quỷ dạ xoa, chủ trương tiêu diệt phá phách, nhưng khi chúng đắc địa nhất là cung Sửu, Mùi thì lại là mẫu hình Chung Vô Diệm tuy xấu mặt nhưng tốt bụng, luôn luôn trung thành, cứu giải phò nguy cho cung mang ý nghĩa mà đôi sao này trấn đóng.

– Địa Kiếp và Địa Không là cặp bài trùng phản trắc chung thân (bất kể chúng đóng ở cung hãm địa hay đắc địa) cung nào mà có bộ mặt của hai sao Không, Kiếp (dù một hay cả hai) thì cục diện cung đó đã có chiều hướng lệch lạc (Thiên Tả) lình xình. Không, Kiếp đắc địa ở cung Tỵ, Hợi, chỉ làm lợi buổi đầu, nó đưa người thụ hưởng lên thật cao rồi cuối cùng vật té xuống hồ sâu (bản chất phản trắc là như thế !). Ngoài ra, một vài tiểu xảo lý thú về sự lệch lạc của Địa Không, Địa Kiếp như sau : Cung Tử Tức có Không Kiếp là thêm con hoang, dị bào, khó nuôi con … Cung Huynh Đệ có Không Kiếp là có thêm anh chị em không cùng một giòng chính thống, hay anh chị em gái có người tình duyên dang dỡ... Cung Phối có Không Kiếp là nhiều lần chắp nối, vợ này, chồng khác (nhất là gặp phải góa phụ, góa vợ..).

– Hỏa Tinh và Linh Tinh là nhóm sao chuyên chú về những thủ đoạn vụng trộm, tính toán, tiểu lợi, chỉ rình mò khi nào đương số gặp vận xấu là vùng lên đánh lén để ăn có. Cung nào chứa Hỏa Tinh, Linh Tinh (chỉ cần một cung là đủ) là hay gặp phải ý nghĩa của câu “họa vô đơn chí”, nghĩa là đường kia nỗi nọ ngổn ngang tơi bời , bởi lo chuyện này chưa xong thì tai ách khác đã tới (nhưng không đến nỗi gay cấn lắm) quan trọng và tai hại nhất là những ai tuổi Canh, Tân (và mạng Kim) gặp hạn Linh, Hỏa ở thế Sát Phá Tham là tiêu tùng sự nghiệp, bổn mạng lâm nguy (Linh Hỏa đóng ở hai cung Thủy là Hợi và Tý thì hạn nhẹ nhất).

[b]9- Được làm vua thua làm giặc

Sao Phá Toái hoạt động riêng trong giang sơn của nó là vòng Kim (thuộc ba cung Tỵ Dậu Sửu). Ai cũng biết Phá Toái chỉ chịu quy phục sao Phá Quân (gọi là Toái Quân- Lưỡng Phá). Do đó người Mạng Kim mà Thân, Mệnh đóng ở một trong ba cung Tỵ Dậu Sửu thuộc cách Sát Phá Tham thì hay nhất, anh hùng nhất (số làm tướng, bách chiến, bách thắng). Thói thường cỡi cọp thì sẽ có ngày cọp cỡi (sinh nghề tử nghiệp) thành ra những người tuổi Tỵ Dậu Sửu thuộc cách Cơ Nguyệt Đồng Lương ở cung Thân, Mệnh, hạn gặp Phá Toái kể như lọt vào vòng kiềm tỏa và ảnh hưởng trực tiếp của hung tinh này, đau khổ là lý đương nhiên, chưa vui họp mặt đã sầu chia ly.

[b]10.Anh hùng tạo thời thế

Tử vi là chúa tinh, đóng ở cung nào đem bóng dáng của hạnh phúc vào cung đó, đây chỉ là lý thuyết tổng quát. Còn khi đem áp dụng vào bản số Tử vi thì đã biến thiên rất nhiều ý nghĩa, lẽ dễ hiểu: Vua hiền mà không gặp được bầy tôi tài giỏi, thì làm sao mà không gặp được bầy tôi tài giỏi, thì làm sao mà nước lã quấy nên bột nên hồ? Lưu Bị không gặp được Khổng Minh, Lê Lợi không có Nguyễn Trãi, chưa chắc đã có tình trạng lịch sử đáng được ghi chép. Có bốn mẫu cung Thân Mệnh (nhất là cung an Thân, vì có hoạt động mới tạo được thành quả) cần phân tích:

-Mệnh Thân có Tử Vi và Thất sát: Vua có thực lực nhưng bề tôi là đám chủ về bạo động, nên ở tình trạng chật vật, thật vất vả mới bình trị được thiên hạn, thất bại nhiều hơn chiến thắng.

-Mệnh thân có Tử vi và Phá quân: Vua gặp phải bầy tôi gian xảo và tham vọng, thành ra yếm thế, bi quan, nhiều khi cũng phải gian tham độc ác theo để tương kế, tựu kế mà sống.

-Mệnh Thân có Tử vi và Thiên Tướng: Vua gặp được tướng giỏi (nhưng hữu dũng vô mưu) cách này là phải luôn chiến đấu (làm sao bắt Thiên Tướng làm việc liên miên, để không còn cơ hội tạo phản) do đó tình trạng phải đa đoạn công việc việc suy gẫm nhiều mưu cơ

-Mệnh Thân có Tử vi và Thiên Phủ: Vua gặp thời thạnh trị, văn thần trung nghĩa, trên dưới hòa thuận nên được hưởng nhiều thanh thản trong đời sống, vừa có tiếng, vừa có miếng.

Nói cách chung, tất cả các yếu tố gọi là sao trên bản số Tử vi, đã sinh hoạt như một cộng đồng nhân loại, có đầy đủ các yêu tính thế tục và thánh thiện vậy.

Theo:
[/b][/b]Một Số Tạp Chí Khoa Học Huyền Bí Trước Những Năm Giải Phóng

Hình đại diện của thành viên
Tây Đô đạo sĩ
Bát đẳng
Bát đẳng
Bài viết: 7976
Tham gia: 19:37, 19/10/10
Đến từ: Tây Đô
Liên hệ:

TL: Các bước luận đoán lá số Tử vi (sưu tầm)

Gửi bài gửi bởi Tây Đô đạo sĩ » 15:28, 04/03/12

10 kinh nghiệm sát thủ của Tử vi
Giáo sư Lê Trung Hưng

Sách Tử vi mỗi ngày càng nhiều nhưng ý nghĩa các Sao vẫn thấy không thấy thêm ra, chỉ quanh quẩn trên nhưng câu Phú với ý nghĩa mơ hồ, nhiều khi đặt để ở một trạng thái gán ghép thành ra làm nản chí những người ham học hỏi Tử-vi không ít. Trong chiều hướng phải làm sao sáng tỏ cho ngành học lý đoán cổ truyền này, những công trình nào dù bé nhỏ tới đâu, nếu đem phổ biến một cách trung thực và nhiệt thành, thiết tưởng cũng là một nỗ lực khách quan nhất của người tri thiên mệnh để xây dựng xã hội. Học phái Thiên Lương xin lại mạn phép chư vị quân tử trình làng Tử vi “Mười Kinh nghiệm” được coi là những đòn sát thủ trên mỗi bản số Tử-vi để cùng nhau chiêm nghiệm :
1.Sinh bất phùng thời: Hạn Thái tuế vô chính diệu
2.Đồng bệnh tương lân: Hình, Riêu, Không Kiếp
3.Đời là bể khổ: cung ách
4.Công ơn tổ phụ: cung Phúc đức vô chính diệu
5.Đen như mõm chó: Cung quan lộc vô chính diệu
6.Làm thân trâu ngựa: Thế tương quan giữa cung Thân Mệnh và cung Nô bộc
7.Trắng tay sự nghiệp: Hạn Thiên không ở tứ mộ
8.Sớm đầu tối đánh: Nhận diện nhóm hung tinh chiến lược Kình, Đà, Linh, Hỏa, Không, Kiếp.
9.Được làm vua thua làm giặc: Người Tỵ, Dậu, Sửu với sao Phá toái.
10.Anh hùng tạo thời thế: Luận bốn mẫu người Tử sát, Tử tướng, Tử phủ và Tử Phá.
Bây giờ xin vào chi tiết

1- Sinh bất phùng thời :

Mỗi bản số đều được hưởng 10 năm thuận lợi, đắc ý nhất ở cung Tam hạp với Sao Thái Tuế (được gọi là vòng Thái Tuế).

Thí dụ : Người tuổi Tỵ, vậy khi đến hạn 10 năm ở một trong ba cung Tỵ, Dậu, Sửu là được hưởng vòng Thái Tuế. Nhưng có 01 điều cân nhắc cận thận về cường độ của sự thoải mãi, nghĩa là xem, đắc ý tới mực nào, thì phải xem xét cung Mệnh (và cả cung an Thân) có chính diệu tọa thủ hay không, đồng thời cung nhập hạn của vòng Thái Tuế có chính diệu hay không ?. Sự đắc thắng vẻ vang hay chiến thắng trong gian lao là tùy thuộc vào các điều kiện sau đây :
•Cung Mệnh (và cung an Thân) có Chính diệu hãm địa, hạn gặp vòng Thái Tuế ở cung Vô Chính diệu thì chỉ đắc lợi một cách tương đối.
•Cung Mệnh (và cung an Thân) có Chính diệu đắc địa, hạn gặp vòng Thái Tuế ở cung Vô Chính diệu thì chỉ đắc lợi trung bình.
•Cung Mệnh (và cung an Thân) Vô Chính diệu, hạn gặp vòng Thái Tuế ở cung Vô Chính diệu thì vẻ vang trong gian khổ, sinh bất phùng thời.
•Cung Mệnh (và cung an Thân) Vô Chính diệu, hạn gặp vòng Thái Tuế ở cung có Chính diệu tọa thủ (nhất là bộ Sát, Phá , Tham) thì chiến thắng rạng rỡ huy hoàng đắc lợi như ý muốn.
•Trường hợp Cung Mệnh trùng hợp với ngay cung của vòng Thái Tuế không tốt bằng cung an Thân trùng hợp với cung của vòng Thái Tuế (vì Thân chủ về hành động, còn Mệnh là lý thuyết và tư tưởng, nên chỉ có làm mới có hưởng, tay có làm thì hàm mới có nhai ! )

2- Đồng bệnh tương lân :
Trong những tai nạn cộng đồng, nghĩa là nhiều người vướng vào vòng hoạn nạn cùng một lúc và bởi một nguyên do (Thí dụ : tai nạn rớt máy bay làm nhiều người chết ... ) Tử vi đã trở lên nghi vấn trong cách giải thích trường hợp khó khăn và tế nhị này ? Tuy nhiên, nếu đem đối chiếu với những lá số thiệt mạng (hay chỉ mang thương tích) trong tai nạn cộng đồng, thì khi dùng phép quy nạp đã cho thấy nét tương đồng kể sau :

- Tam hợp với cung Mệnh có Thiên Hình, Thiên Riêu, Địa Không và Địa Kiếp (hay tam hợp của cung Ách )

- Cung Ách có Thất Sát, Phá Quân hay Tham Lang (Hay cung Mệnh có cách này)

- Tiểu Vận (một năm) hay Đại Hạn (10 năm) vào vòng tam hạp của Thiên Không (Thiếu Dương - Tử Phù và Phúc Đức)

Hầu hết những người có cách trên đều phải nếm qua mùi vị của " Đồng Mệnh tương lân " : Việc xảy ra nếu có người chết, kẻ chỉ bị thương, là còn do cung Phúc Đức chi phối, dù thế nào đi chăng nữa thì cũng phải cộng đồng tai ách. Chắc chắn không ai dám kiểm chứng trường hợp này, bằng cách tập hợp tất cả các cá nhân có Hình-Riêu-Không- Kiếp ở Mệnh (và Ách cung là thế Sát Phá Tham), nhưng nếu quý vị nào chịu khó sưu tập những lá số có có tiêu chuẩn vừa nói, thì sẽ thấy ngay cá nhân của bản số đều vướng phải chuyện xui xẻo này một lần trong đời của họ.

3- Đời là bể khổ : Cung Ách

Thế nhị hợp của cung Ách với hai cung Mệnh, Thân đã nói lên rõ ràng cái nghiệp mà nhà Phật chủ trương .

- Mệnh, Thân sinh phò Ách cung , là ta phải lãnh đủ mọi chuyện do ta đã làm. Cá nhân phải trực tiếp chịu ảnh hưởng cái hậu quả của việc ta đã tạo ra trong đời sống hằng ngày (gieo nhân nào, gặt quả ấy). Đây là giai đoạn tạo nghiệp mà Nguyễn Du tiền bối đã nói : "Thiện căn ở tại lòng ta"

- Ách cung sinh phò Mệnh, Thân là bản thân ta ở kiếp này phải hứng chịu nhiều những hậu quả truyền kiếp (do dòng họ tiền nhân để lại, cũng có thể là do đời sống ta kiếp trước để lại) Cho nên, trong chuyện Kiều có câu ứng :
Đã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng có trách lẫn trời gần trời xa.

- Mệnh,Thân sinh phò Ách cung là khi nào hành Tam hợp của cung Mệnh, Thân sinh ra hành của Tam hợp cung Ách (Ví dụ: Mệnh ở cung Dậu, vậy hành của Tam hợp Tỵ Dậu Sửu là Kim. Ách ở cung Thìn, vậy hành của Tam hợp Thân Tý Thìn là Thủy. Tam hợp Mệnh là Kim đã sinh phò tam hợp Ách là Thủy). Còn Ách cung sinh phò Mệnh, Thân cũng tính như cách vừa nói (Ví dụ : Ách ở cung Tỵ thuộc Tam hợp là hành Kim. Cung an Thân ở ngay cung Thân thuộc Tam hợp Thủy, do đó Ách (Kim) sinh xuất ra Thân (Thủy)

Mặt khác, đã gọi cung Tật Ách, thì chỉ được hiểu là những nghiệp xấu tích lũy tích tụ lại (còn nghiệp tốt tích tụ ở cung Phúc-Đức mới đúng nghĩa của nó) thành ra không bao giờ Đại Tiểu hạn đến cung Tật Ách mà người ta thấy thoải mái đắc ý được (sách xưa ghi đơn sơ : hạn Thiên Sứ xấu, chính là ẩn ý vậy). Đã biết cung Tật Ách xấu, và hiểu là những tai nạn cho mỗi bản số trong kiếp đang sống, thiết tưởng phải lưu ý hai bộ mặt của cung Ách :

- Ách cung thuộc cách Sát Phá Tham là hay bị ngoại thương, chủ về sự sát phạt tích cự mau lẹ.

- Ách cung thuộc cách Cơ Nguyệt Đồng Lương, Tử Phủ Vũ Tướng chủ về nội thương, các tai họa có tính cách gậm nhấm, tiêu hao dần mòn ...

4- Công ơn Tổ-Phụ :
Nếu cung Ách tiêu biểu cho nghiệp xấu, thì cung Phúc Đức tượng trưng cho nghiệp tốt. Có điều cần phải nhấn mạnh là : nghiệp tốt với những cường độ khác nhau (phước mỏng hay phước dày là thế). Đa số sách Tử-vi đều hời hợt ghi chú :”Sao Mộ ở cung Phúc Đức là cách tốt đẹp”. Tôi thấy điều này trái hẳn với ý nghĩa Tăng–Trưởng–Hủy–Diệt của vòng Tràng Sinh (phải hiểu là 12 giai đoạn của một kiếp sống , chứ không phải là 12 sao: Tràng Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai và Dưỡng, được đa số nhìn như những tinh đẩu riêng biệt là một điều lầm lẫn lớn).

Cung Phúc Đức bản chất là một kho tích tụ những may mắn cho một đời người, nếu nó có sao Mộ đóng, tức là có nghĩa : giai đọan may mắn đã chìm sâu trong bóng tối một cách dễ hiểu hơn hơn là không còn hên nữa. Phúc Đức ở giai đoạn của Thai, của Dưỡng của Trường Sinh … là cách tốt đẹp khả quan nó biểu hiện cho những tiềm lực dồi dào, tài nguyên “may mắn” còn phong phú, còn tiềm tàng …

Ngoài ra, một kinh nghiệm khác về cung Phúc Đức, là khi nào cung này Vô Chính Diệu , được Thái Dương, Thái Âm (đắc địa) ở thế Tam Hợp hội nhập chiếu sáng rõ ràng một đời “Họa bất trùng lai, phước vô đơn chí”

Ví dụ : Cung Phúc Đức Vô Chính Diệu ở cung Mùi, có Thái Dương ở cung Mão, có Thái Âm ở cung Hợi chiếu sáng. Sách xưa có ghi “Nhật Nguyệt chiếu hư không chi địa” là một đời có nghĩa “ Bao nhiêu hạnh phúc ở trần gian, trời đã dành riêng để tặng … lá số “. Thiên địa hòa mình thì nhân sự thanh bình vậy.

5- Đen như mõm chó
Sống là phải tranh đấu, nhất là đối với những ai còn chủ trương : Có trung hiếu nên đứng trong trời đất, không công danh thà nát với cỏ cây (Nguyễn Công Trứ), thì cung Quan Lộc phải kể là quan trọng đối với đấng ”mày râu” (Riêng đối với phái đẹp, thì tác giả Vân Đằng Thái Thứ Lang đã bàn rõ cách Thân cư Quan Lộc có Tuần-Triệt án ngữ, xin miễn bàn nhiều !) Các cách tốt xấu của chính tinh ở Quan Lộc đã có nhiều sách giải rất chi tiết, nhưng khi cung này Vô Chính Diệu thì sao ? Xin thưa ngay rằng : Đen như mõm chó. Cổ nhân nói câu thành ngữ này là có ý diễn tả cái cảnh bấp bênh, cái tráo trở, cái bất hạnh, cái long đong … của con người. Cung Quan Lộc Vô Chính Diệu là một trạng thái bi đát, mà cụ Uy Viễn Tướng Công đã cay cú :

– Người trần thế muốn nhàn sao được ?
Nói dễ hiểu hơn : Công danh sự nghiệp, thăng trầm vật vờ như phù vân. Kể cả trường hợp được Nhật Nguyệt chiếu sáng thì cũng chỉ là cái thế của Quân Sư quạt mo, phò người để còn có mình, khí cái gốc nương nhờ sụp đổ thì ta còn gì, ngoài ý nghĩa “ký sinh nhân” ?

6- Làm thân trâu ngựa
Người biết coi số Tử-Vi đều ngán ngẫm nhóm sao tráo trở và thủ đọan là : Tả, Hữu, Không, Kiếp, Phục Binh, Kình, Đà …(được coi là nhóm hung tinh chiến lược) đóng ở cung Nô.
Trong bản số Tử-Vi thế nhị hợp của cung Thân, Mệnh và cung Nô cũng phải lưu ý nhóm sao dữ kể trên đóng ở vị trí nào :

– Nếu Tam hợp cung Thân – Mệnh có hành sinh xuất tam hợp cung Nô, mà cung Nô chứa bộ hung tinh chiến lược thì có nghĩa là làm ơn mắc óan, hữu công vô lao, bạn bè chỉ là hạng bất nhân luôn luôn tìm cách trục lợi mình, sang thì tìm đến, khó thì tìm lui. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tả óan :
Còn bạc còn tiền còn để tử
Hết cơm hết gạo hết ông tôi
Ví dụ : Cung Thân ở cung Hợi (thuộc Hợi Mão Mùi là Mộc), Cung Nô ở cung Dần (thuộc Dần Ngọ Tuất là Hỏa). Vậy là cái ta Mộc sinh xuất cho cái Nô Hỏa.

– Nếu tam hợp cung Thân- Mệnh được hành sinh nhập bởi tam hợp của cung Nô, mà cung Nô cũng chứa bộ hung tinh chiến lược, lại có nghĩa thâm thúy như sau : Bạn Bè, thuộc hạ của ta tuy là hạng đầu trâu mặt ngựa, đối với người khác là sự phản bội nhưng đối với ta vẫn trung thành phục vụ , đem hết sức khuyển mã để phụng sự ta.
Ví dụ : Nô Bộc ở cung Hợi (thuộc tam hợp Mộc) sinh nhập cho Thân ở cung Dần (thuộc tam hợp Hỏa). Những thầy phù thủy, thầy pháp cao tay ấn đều có cách này.

7- Trắng tay sự nghiệp
Đại, Tiểu Hạn trùng phùng, đáng sợ nhất của lá số Tử-Vi là Đại hạn 10 năm đóng tại một trong ba cung có sao : Thiếu Dương, Tử Phù, Phúc Đức (đỡ vất vả nhất) và Tiểu vận một năm cũng nằm trên một trong ba cung có sao vừa nói, (gọi là hạn Thiên Không, sẽ gặp số không ở cuối đường hầm). Cụ Thiên Lương chủ trương học Tử-Vi phải có lòng thành khẩn và can đảm mà gồng mình chịu đựng :

– Khi sao Thiên Không đóng ở Tứ Mộ (bốn cung Thìn Tuất Sửi Mùi ) nghĩa là không có trường hợp Đào Hoa, Thiên Không (xảo trá, mưu mô) và cũng không có trường hợp Hồng Loan Thiên Không (xuất tăng tầm đạo ) chỉ có một GRANĐ-ZEZÔ. Vậy khi nào hạn Thiên Không (vòng của Thiếu Dương, Tử Phù, Phúc Đức) nhập Mộ cung, thì kể như trắng tay sự nghiệp (nhất là khi Mệnh, Thân thuộc cách Cơ Nguyệt Đồng Lương, mà Đại Tiểu hạn trùng phùng là Sát Phá Tham cách) may mắn lắm bản thân mới còn, đa số đều ôm hận ngút trời, mà về cõi ta bà Âm Phủ

8- Sớm đầu tối đánh:
Sáu sao Kình Dương, Đà La, Địa Kiếp, Địa Không, Hỏa Tinh và Linh Tinh. Tuy bản chất hung dữ nhưng có nhiều nét dị biệt cần phải bám sát vào ba đặc tính kể sau để nhận diện :

– Kình Dương và Đà La thuộc loại Sát tinh hữu dõng vô mưu, tuy tác hại nhưng còn chiêu hồi được. Nói cách khác, khi nó hãm địa là những bộ mặt quỷ dạ xoa, chủ trương tiêu diệt phá phách, nhưng khi chúng đắc địa nhất là cung Sửu, Mùi thì lại là mẫu hình Chung Vô Diệm tuy xấu mặt nhưng tốt bụng, luôn luôn trung thành, cứu giải phò nguy cho cung mang ý nghĩa mà đôi sao này trấn đóng.

– Địa Kiếp và Địa Không là cặp bài trùng phản trắc chung thân (bất kể chúng đóng ở cung hãm địa hay đắc địa) cung nào mà có bộ mặt của hai sao Không, Kiếp (dù một hay cả hai) thì cục diện cung đó đã có chiều hướng lệch lạc (Thiên Tả) lình xình. Không, Kiếp đắc địa ở cung Tỵ, Hợi, chỉ làm lợi buổi đầu, nó đưa người thụ hưởng lên thật cao rồi cuối cùng vật té xuống hồ sâu (bản chất phản trắc là như thế !). Ngoài ra, một vài tiểu xảo lý thú về sự lệch lạc của Địa Không, Địa Kiếp như sau : Cung Tử Tức có Không Kiếp là thêm con hoang, dị bào, khó nuôi con … Cung Huynh Đệ có Không Kiếp là có thêm anh chị em không cùng một giòng chính thống, hay anh chị em gái có người tình duyên dang dỡ... Cung Phối có Không Kiếp là nhiều lần chắp nối, vợ này, chồng khác (nhất là gặp phải góa phụ, góa vợ..).

– Hỏa Tinh và Linh Tinh là nhóm sao chuyên chú về những thủ đoạn vụng trộm, tính toán, tiểu lợi, chỉ rình mò khi nào đương số gặp vận xấu là vùng lên đánh lén để ăn có. Cung nào chứa Hỏa Tinh, Linh Tinh (chỉ cần một cung là đủ) là hay gặp phải ý nghĩa của câu “họa vô đơn chí”, nghĩa là đường kia nỗi nọ ngổn ngang tơi bời , bởi lo chuyện này chưa xong thì tai ách khác đã tới (nhưng không đến nỗi gay cấn lắm) quan trọng và tai hại nhất là những ai tuổi Canh, Tân (và mạng Kim) gặp hạn Linh, Hỏa ở thế Sát Phá Tham là tiêu tùng sự nghiệp, bổn mạng lâm nguy (Linh Hỏa đóng ở hai cung Thủy là Hợi và Tý thì hạn nhẹ nhất).

9- Được làm vua thua làm giặc
Sao Phá Toái hoạt động riêng trong giang sơn của nó là vòng Kim (thuộc ba cung Tỵ Dậu Sửu). Ai cũng biết Phá Toái chỉ chịu quy phục sao Phá Quân (gọi là Toái Quân- Lưỡng Phá). Do đó người Mạng Kim mà Thân, Mệnh đóng ở một trong ba cung Tỵ Dậu Sửu thuộc cách Sát Phá Tham thì hay nhất, anh hùng nhất (số làm tướng, bách chiến, bách thắng). Thói thường cỡi cọp thì sẽ có ngày cọp cỡi (sinh nghề tử nghiệp) thành ra những người tuổi Tỵ Dậu Sửu thuộc cách Cơ Nguyệt Đồng Lương ở cung Thân, Mệnh, hạn gặp Phá Toái kể như lọt vào vòng kiềm tỏa và ảnh hưởng trực tiếp của hung tinh này, đau khổ là lý đương nhiên, chưa vui họp mặt đã sầu chia ly.

10.Anh hùng tạo thời thế
Tử vi là chúa tinh, đóng ở cung nào đem bóng dáng của hạnh phúc vào cung đó, đây chỉ là lý thuyết tổng quát. Còn khi đem áp dụng vào bản số Tử vi thì đã biến thiên rất nhiều ý nghĩa, lẽ dễ hiểu: Vua hiền mà không gặp được bầy tôi tài giỏi, thì làm sao mà không gặp được bầy tôi tài giỏi, thì làm sao mà nước lã quấy nên bột nên hồ? Lưu Bị không gặp được Khổng Minh, Lê Lợi không có Nguyễn Trãi, chưa chắc đã có tình trạng lịch sử đáng được ghi chép. Có bốn mẫu cung Thân Mệnh (nhất là cung an Thân, vì có hoạt động mới tạo được thành quả) cần phân tích:

-Mệnh Thân có Tử Vi và Thất sát: Vua có thực lực nhưng bề tôi là đám chủ về bạo động, nên ở tình trạng chật vật, thật vất vả mới bình trị được thiên hạn, thất bại nhiều hơn chiến thắng.

-Mệnh thân có Tử vi và Phá quân: Vua gặp phải bầy tôi gian xảo và tham vọng, thành ra yếm thế, bi quan, nhiều khi cũng phải gian tham độc ác theo để tương kế, tựu kế mà sống.

-Mệnh Thân có Tử vi và Thiên Tướng: Vua gặp được tướng giỏi (nhưng hữu dũng vô mưu) cách này là phải luôn chiến đấu (làm sao bắt Thiên Tướng làm việc liên miên, để không còn cơ hội tạo phản) do đó tình trạng phải đa đoạn công việc việc suy gẫm nhiều mưu cơ

-Mệnh Thân có Tử vi và Thiên Phủ: Vua gặp thời thạnh trị, văn thần trung nghĩa, trên dưới hòa thuận nên được hưởng nhiều thanh thản trong đời sống, vừa có tiếng, vừa có miếng.

Nói cách chung, tất cả các yếu tố gọi là sao trên bản số Tử vi, đã sinh hoạt như một cộng đồng nhân loại, có đầy đủ các yêu tính thế tục và thánh thiện vậy.

Hình đại diện của thành viên
Tây Đô đạo sĩ
Bát đẳng
Bát đẳng
Bài viết: 7976
Tham gia: 19:37, 19/10/10
Đến từ: Tây Đô
Liên hệ:

TL: Các bước luận đoán lá số Tử vi (sưu tầm)

Gửi bài gửi bởi Tây Đô đạo sĩ » 11:33, 15/03/12

Kinh nghiệm Tử vi của cụ Thiên Lương
Tôi học Tử vi: NHỮNG BÍ QUYẾT GIẢI ĐOÁN ĐẠI VẬN


* Đại vận rất quan trọng, lấn áp cả Tiểu vận

* Ba bí quyết xác định sự tốt xấu của cung Đại vận, về ba phương diện: Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa
.

Trần Việt Sơn trình bầy


Trong việc giải đoán lá số Tử vi, đối với sở thích của những người đã lớn tuổi, có thể kể rằng việc giải đoán đại vận là quan trọng nhất. Về phương diện tâm lý, với người đã lớn tuổi, người ta rất mong được biết những dịp tốt hay những vận hạn sẽ đến, nếu biết dịp tốt đến, sẽ cố gắng khai thác; nếu biết thất bại đến sẽ không dại bỏ tiền ra để rồi mất hết. Vả lại khi đã lớn tuổi, với nhiều người, gần như số mạng đã an bài, chỉ còn trông vào những thay đổi phần nào ở vận hạn. Trong thật tế có nhiều người chỉ ăn về vận. Đương là một người như mọi người, bỗng cơ may đưa đến, vọt ngay lên ngôi cao chức cả, thế rồi hết vận, lại tụt đi đâu mất không ai hay.


Người ta có thể kể không biết bao nhiêu người như thế, như ông Diệm, ông Nhu, Ông Cẩn, tướng Nguyễn Khánh, ông Trần Trọng Kim, cụ Phan Khắc Sửu, và gần đây hơn, có biết bao nhiêu người đương là giáo sư công chức, kỹ sư, dược sĩ, nhẩy ngay lên chức lớn, và có một số đã bỗng nhiên bỏ chức chức lớn mà trở về với cuộc sống bình thường; có những người đương làm ăn bình thường, bỗng lời đổ đến tay như thác nước trong cả một thời kỳ, nhưng rồi quen ăn làm tới, tiền lại ào ào đội nón ra đi. Những cuộc thay đổi lớn lao và bất thường đó là do Đại Vận, hơn là do Tiểu vận.


-Đại vận 10 năm, chủ vào 10 năm của cuộc đời. Đại vận mà khá thì cũng như có cái gốc khá. Tiểu vận có kém cũng được khá theo, và nếu Tiểu vận được khá thì lại càng khá nhiều.


Ngược lại, Đại vận mà kém thì tiểu vận có những sao tốt, cũng không thể tốt như ý muốn. Càng bởi thế, tính vận hạn, ta không nên ngạc nhiên rằng năm Thân lần trước sao ta khá thế, mà năm Thân lần này, sao ta lại quá dở, đó là vì Tiểu vận phải tùy theo Đại vận.


-Trong việc đoán số mạng đoán Đại vận là nắm được cái tốt xấu trong cả một cuộc đời, cho nên đoán đại vận là một sự rất hứng khởi. Có một lần, một vị độc giả, hận vì đã bị đoán số lầm, nhất định xin hỏi cụ Thiên Lương giải đoán cho vận hạn mấy năm. Vị độc giả đó không nói trước điều nào. Cụ Thiên Lương tính toán rồi nói: “Mấy năm nầy, ông làm ăn thất bại, thiệt tiền của”. Vị nọ thở phào, tự coi như an ủi vì số mạng đúng. Ông mới tâm sự: “Đó là mấy năm tôi phải bỏ một số vốn lớn công ty vào một việc. Tôi đã hỏi kỹ mấy ông thầy. Mấy ông bảo tốt, cứ xúc tiến công việc đi. Tôi yên trí bỏ tiền ra không ngờ mất tất cả. Nhưng tại sao lại hỏng việc được? Rõ ràng hành của cung đại vận sinh cho hành mệnh của tôi như thế bước vào đại vận này là phải tốt chứ? Cụ Thiên Lương trả lời rằng ông mới được địa lợi, nhưng Thiên thời lại hỏng.

Và bây giờ chúng tôi xin trình bày những kinh nghiệm của cụ Thiên Lương.

Ba yếu tố chính


Để xác định một cung Đại vận là tốt hay xấu, có ba yếu tố chính:

1.Hành của bộ Tam hợp cung Đại vận sinh cho hành của bộ Tam hợp cung tuổi, hay đồng hành, là tốt. Khắc là xấu. Đó là yếu tố Thiên thời. Được Thiên thời là được thế thắng, được vận tốt do số mạng dành cho mình là được khá hơn đại vận khác.

2.Hành của cung Đại vận sinh hay khắc cho Mệnh của mình. Sinh là tốt, khắc là xấu. Đây là yếu tố chủ về thế thắng và vận tốt. Chắc các bạn thích Tử vi đã nhận ra rằng đây là yếu tố chủ chốt mà các nhà giải đoán Tử vi thường dùng để xét đoán vận tốt xấu, (nhưng các ông lại không để ý đến yếu tố là yếu tố Thiên thời).


3.Sự thích hợp hay không thích hợp của bộ sao tại Đại vận đối với bộ sao tại cung Mệnh. Có những bộ sao mà quý bạn đều biết: Sát Phá Liêm Tham, Tử Phủ Vũ Tướng, Cự, Nhật, Cơ Nguyệt Đồng Lương: Yếu tố này cũng được các sách cổ nói đến và các thầy Tử vi sử dụng, nhưng không có sự hệ thống hóa đầy đủ, chỉ nói sơ trong vài trường hợp (tỷ dụ: Mệnh có bộ sao này, đến cung đại vận gặp bộ sao này, thì tốt hay xấu). Yếu tố thứ 3 này là yếu tố Nhân hòa.


Yếu tố về Tuần Triệt đã được chúng tôi trình bầy, chúng tôi sẽ nhắc lại. Còn các trung tinh, hung tinh là những yếu tố thêm vào cho các yếu tố chính, và chỉ rõ thêm về các trường hợp cá biệt, như vận mạng về gì, hạn về phương diện nào. Thí dụ:


-Được cả ba yếu tố Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa là được đại vận rực rỡ. Nếu lại được các trung tinh tốt và thoát được các hung tinh hãm, thì càng rực rỡ hơn.


-Bị cả 3 yếu tố Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa, cùng xấu, là bị đại vận xấu. Nếu lại bị những sao hung xâm nhiễu, thì đó là đại vận rất nặng, gặp nhiều thất bại, và có thể đi đến cái chết.


Trong số giai phẩm này, chúng tôi xin trình bầy hai yếu tố Thiên Thời và Địa lợi. Các yếu tố khác, sẽ xin trình bầy trong giai phẩm sau.


A-YẾU TỐ THIÊN THỜI


Trong Tử vi, đừng bao giờ quên yếu tố các bộ Tam hợp. Xin nhắc lại hành bộ Tam hợp trên lá số:


1-Thân Tý Thìn: THỦY

2-Hợi Mão Mùi: MỘC
3-Dần Ngọ Tuất: HỎA
4-Tị Dậu Sửu: KIM

Nguyên tắc: Trước hết, ghi nhận hành của tam hợp cung tuổi. Như người tuổi Tý thuộc tam hợp Thân Tý Thìn, hành Thủy.


Rồi muốn đoán cho mỗi đại vận cứ xét hành của tam hợp của cung Đại vận đó. So sánh hai hành (Hành của tam hợp cung tuổi và hành của tam hợp cung Đại vận) thấy sự sinh khắc chế hóa thế nào thì biết Thiên thời của Đại vận là xấu hay tốt.


-Hành tam hợp Đại vận sinh cho hành tam hợp tuổi: tốt, được Thiên thời.


-Hành tam hợp Đại vận đồng hàng với tam hợp tuổi (đây là trường hợp đại vận vào cung có Thái tuế Quan phù, Bạch hổ): tốt. Thiên thời đến cho mình.


-Hành tam hợp Đại vận khắc tam hợp tuổi (trường hợp mình bị khắc nhập) xấu nhất, thời gian và hoàn cảnh chung đánh vào mình và thắng mình, mình bị nhiều thất bại và thua thiệt.


-Hành tam hợp Đại vận bị hành tam hợp tuổi khắc (trường hợp khắc xuất): mình khắc thời vận, gặp nhiều khó khăn, nhưng mình cố gắng và chịu chật vật nhiều, có thể thắng được.


-Hành tam hợp Đại vận được hành tam hợp tuổi sinh (trường hợp sinh xuất): tuy sinh, nhưng sinh xuất, cho nên lao đao, như người mất máu huyết, mất sức lực tiền bạc.


Ghi các trường hợp


Quý bạn cứ theo các giải đoán trên mà xác định về Thiên thời: sau đây, nên ghi các trường hợp.


1)Tuổi Thân, Tý, Thìn Tam hợp Thủy

Đại vận đến cung Thân, Tý, Thìn: được Thiên thời, tốt nhất của mình
Đại vận đến cung Hợi Mão Mùi (Mộc) Thủy sinh Mộc, vậy bị sinh xuất.
Đại vận đến cung Dần Ngọ Tuất (Hỏa) Thủy khắc Hỏa khắc xuất. Mình khắc thời, phải chật vật mới thắng
Đại vận đến Tị Dậu Sửu (Kim). Sinh nhập, Thiên thời.

2)Tuổi Hợi Mão Mùi Tam hợp Mộc

Đại vận đến cung Hợi Mão Mùi, tức đến tam hợp Thái tuế, tốt nhất.
Đại vận đến cung Thân, Tý, Thìn (Thủy): Mình được sinh nhập. Tốt, mình có Thiên thời.
Đại vận đến cung Dần Ngọ Tuất (Hỏa) Mình bị sinh xuất, lao đao.
Đại vận đến Tị Dậu Sửu (Kim). Mình bị khắc nhập xấu.

3)Tuổi Dần Ngọ Tuất (Hỏa)

Đại vận đến cung Dần Ngọ Tuất (tam hợp Thái tuế): tốt.
Đại vận đến cung Thân, Tý, Thìn (Thủy): Mình bị khắc xấu
Đại vận đến cung Hợi Mão Mùi (Mộc) Mình được sinh nhập. Tốt.
Đại vận đến Tị Dậu Sửu (Kim) khắc xuất, phải chật vật mới thắng

4)Tuổi Tị Dậu Sửu (Kim)

Đại vận đến cung Tị Dậu Sửu (tam hợp Thái tuế): tốt.
Đại vận đến cung Thân, Tý, Thìn (Thủy): Mình bị sinh xuất.
Đại vận đến cung Hợi Mão Mùi (Mộc) Khắc xuất
Đại vận đến Dần Ngọ Tuất (Hỏa) Mình bị khắc nhập

Dàn bài cho đủ các trường hợp, chớ thật ra bạn nắm vững nguyên tắc các bộ tam hợp và hành sinh khắc, là bạn giải đoán được ngay.


B-YẾU TỐ ĐỊA LỢI


Hành của cung Đại vận sinh cho mệnh của mình, là sinh nhập, tốt nhất.

Hành của cung Đại Vận đồng hành với Mệnh là tốt.
Hành của Mệnh mình sinh cho hành cung Đại Vận, là sinh xuất, lao đao.
Hành của Mệnh mình khắc hành cung Đại vận: Khắc xuất, bị chật vật nhưng có thể thắng.
Hành của cung Đại vận khắc hành của mệnh: Khắc nhập, xấu, thất bại.

Hình đại diện của thành viên
Tây Đô đạo sĩ
Bát đẳng
Bát đẳng
Bài viết: 7976
Tham gia: 19:37, 19/10/10
Đến từ: Tây Đô
Liên hệ:

TL: Các bước luận đoán lá số Tử vi (sưu tầm)

Gửi bài gửi bởi Tây Đô đạo sĩ » 18:03, 15/03/12

Kinh nghiệm Tử vi của cụ Thiên Lương
Tôi học Tử vi: NHỮNG BÍ QUYẾT GIẢI ĐOÁN ĐẠI VẬN

* Yếu tố thứ ba: bộ sao gặp Đại vận có hợp với bộ sao tại Mạng không?

Trần Việt Sơn

Trong giai phẩm trước, chúng tôi đã trình giải kinh nghiệm của cụ Thiên Lương về việc giải đoán Đại vận. Chúng tôi đã nói đến hai yếu tố đầu, bây giờ xin nói đến yếu tố thứ ba, sau đó sẽ xin nói đến những yếu tố phụ thuộc (nhưng cũng quan trọng).

Nhắc lại: Yếu tố Thiên Thời: được thời vận thì dù các yếu tố khác có kém, mình cũng khá. Xét yếu tố này, phải cân nhắc tam hợp cung tuổi của mình và tam hợp cung đại vận: nếu đến tam hợp Đại vận đồng hành với tam hợp tuổi, mình được khá nhất; tam hợp Đại vận sinh cho tam hợp tuổi, là có Thiên Thời tốt; tam hợp Đại vận khắc tam hợp cung tuổi: khó khăn nhất và hoàn cảnh thắng mình. Tam hợp tuổi sinh cho tam hợp Đại vận là bị sinh xuất: mình bị lao đao, có khá được cũng mệt mỏi tiêu hao nhiều.

-Yếu tố hai là yếu tố Địa lợi: phải ghi hành của Mệnh mình (tức là Mệnh của mình là người Kim, Mộc, Thủy, Hỏa hay Thổ) rồi xét xem Đại vận đến cung nào, hành của cung này sinh khắc cho Mệnh thế nào. Tùy theo các thế sinh khắc mà ta đã biết: Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, ta biết được cung Đại vận sinh khắc chế hóa như thế nào với Mệnh của ta. Cung Đại vận sinh cho Mệnh của ta là tốt nhất. Cung Đại vận hòa với Mệnh của ta là trung bình. Mệnh của ta sinh cho cung Đại vận, là ta bị sinh xuất, có đạt được cũng lao đao, cuối cùng cung Đại vận khắc Mệnh của ta, là ta gặp khó khăn, hoàn cảnh chế ngự ta, ta không thể thắng nổi. Nếu Mệnh bị cung khắc, còn có thể xét xem được yếu tố Âm Dương của cung giống Âm Dương của Mệnh thì cũng dở.

Yếu tố thứ ba: bộ sao ta gặp ở Đại vận

Yếu tố thứ ba là bộ sao ta gặp ở Đại vận hợp hay không hợp với bộ sao ta có tại cung Mệnh. Đây là yếu tố mà ta thường thấy ghi ở các sách cổ kim, nhưng các trường hợp này không được giải thích và hệ thống hóa. Cụ Thiên Lương đã hệ thống hóa như sau:

Như trong sách “Tử vi nghiệm lý” cụ đã ghi, cụ phân các bộ chính tinh ra Âm và Dương, Dương là thực hành mà Âm là lý thuyết. Các bộ Tử, Phủ, Vũ, Tướng và Sát, Phá, Liêm, Tham thuộc về Dương và có tánh chất thực hành, các bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương và Cự Nhật thuộc về Âm và có tánh chất lý thuyết. Hai bên Âm Dương phân ra như vậy là hình ảnh của Lưỡng nghi.

Phân biệt ra Tứ tượng, ta có 4 bộ với tánh chất như sau:
Sát Phá Liêm Tham: 100% thực hành.
Tử Phủ Vũ Tướng: 60% thực hành, 40% lý thuyết
Cự Nhật: 60% lý thuyết, 40% thực hành.
Cơ Nguyệt Đồng Lương: 100% lý thuyết.

Luận ra các thế của Đại vận

Sự khác biệt hay giống nhau là do chỗ thế Âm và thế Dương mà gặp nhau thì nghịch, thường kém tốt; hoặc thế lý thuyết mà gặp thế thực hành thì có phát thêm, nhưng gặp họa lệch lạc, kém tốt. Tuy nhiên, nếu lý thuyết 100% mà gặp thực hành 100% thì phát mạnh hoạt động nhiều nhưng gặp họa nhiều hơn là những thế tuy khác biệt Âm Dương mà thế lý thuyết, thực hành không khác nhau xa mấy (như có thế 60% lý thuyết, 40% thực hành mà gặp thế 40% thực hành 60% lý thuyết thì không khác nhau xa mấy). Cũng vậy, thế 100% thực hành mà gặp thế 60% thực hành, 40% lý thuyết, cũng không khác xa nhau mấy.

Từ căn bản đó, luận ra các thế như sau:
-Mệnh Cơ Nguyệt Đồng Lương (yếu, Âm, 100% lý thuyết) gặp Đại vận Sát Phá Liêm Tham (mạnh, Dương, 100% thực hành): phát mạnh thì lại bị nặng, nhiều khó khăn, có thể có những cái rủi lớn.

-Mệnh Sát Phá Liêm Tham gặp Đại vận Sát Phá Tham – giống nhau hợp, tốt.

-Mệnh Cơ Nguyệt Đồng Lương đến đại vận Cơ Nguyệt Đồng Lương giống nhau, hợp, tốt.

-Mệnh Sát Phá Tham gặp đại vận Cơ Nguyệt Đồng Lương: kém, nhưng không hiểm nguy, mặc sống kém hơn so với các đại vận Sát Phá Tham (tóm lại là kém đi).

-Mệnh Sát Phá Tham gặp đại vận Tử Phủ Vũ Tướng, cùng Dương, vậy là không có gì khó khăn nặng, nhưng cũng giảm kém xuống một chút vì sự khác biệt về thế thực hành, lý thuyết ( Sát Phá Tham đương hoạt động 100/100, gặp Tử Phủ Vũ Tướng hoạt động giảm đi, nhưng thêm lý thuyết thế vào).

-Mệnh Tử Phủ Vũ Tướng gặp Tử Phủ Vũ Tướng: tốt.

-Mệnh Tử Phủ Vũ Tướng gặp đại vận Sát Phá Tham, phải hoạt động thâm lên như cũng giảm kém chút đỉnh.

-Tử Phủ Vũ Tướng với Cơ Nguyệt Đồng Lương: cũng luận như giữa Sát Phá Tham và Cơ Nguyệt Đồng Lương, nhưng sự khắc biệt, sự giảm kém không quá mạnh, là vì Tử Phủ Vũ Tướng còn có 40% lý thuyết so với Cơ Nguyệt Đồng Lương 100% lý thuyết.

-Mệnh Tử Phủ Vũ Tướng gặp Cự Nhật: khác về Âm Dương, nhưng sự chênh lệch trong tỷ lệ lý thuyết và thực hành rất ít, nên sự giảm kém cũng rất ít. Mệnh Cự Nhật gặp Tử Phủ Vũ Tướng cũng luận theo như thế.

Vài yếu tố khác

Luận ba yếu tố trên, đủ thấy được đại cương Đại vận tốt xấu, một cách rất chính xác.

Còn những yếu tố phụ khác, nhưng cũng quan trọng, là các trung tinh lớn và các hung tinh lớn.

Ngoài ra có yếu tố lớn và chúng tôi đã nêu lên trong một kinh nghiệm trước cũng của cụ Thiên Lương, đó là kinh nghiệm về Tuần Triệt như một yếu tố để giải đoán Đại vận, Tuần hay Triệt nói chung làm giảm kém các sao tốt, nhưng lại làm tốt những sao hãm.

Nếu ở cung Mệnh có Tuần giải chế Mệnh thì đến Đại Vận có Triệt, mệnh được cởi gỡ ra và khá lên. Cũng vậy, nếu ở Mệnh có Triệt thì đến Đại vận có Tuần, vận mệnh được gỡ ra và khá lên.

Một lá số để thử nghiệm

Xin lấy một lá số để cụ thể hóa các nguyên tắc trên bằng một cuộc áp dụng thật tế, để dễ nhận định hơn.

Lá số trên, Mệnh tại Sửu, cách Sát Phá Liêm Tham; Hỏa mệnh; Âm nam; tam hợp tuổi là Hợi Mão Mùi thuộc Mộc.

Đại vận 12-21 tại Tý – Tam hợp Đại vận là Thân Tý Thìn, thuộc Thủy, Thủy sinh Mộc, vậy là được Thiên thời, yếu tố chính. Cung Đại vận tại Tý là cung Thủy, khắc mệnh Hỏa: mất Địa lợi. Bộ chính tinh là Cơ Nguyệt Đồng Lương, lệch với bộ Sát Phá Liêm Tham, nhưng không nặng bằng khi Mệnh là Cơ Nguyệt Đồng Lương mà gặp đại vận Sát Phá Liêm Tham. Trong giai đoạn này, đương số sống dưới bóng cha mẹ, được đầy đủ điều kiện ăn học, nhưng cũng gặp khá nhiều vấp váp trong việc học thi trượt mấy lần, và lúc cuối đại hạn cũng lên được đại học. Bị một đau tưởng chết.

Đại vận 22-31 tại Hợi – Được Thiên thời vì Đại vận tại Hợi thuộc tam hợp Hợi Mão Mùi đồng hành với tam hợp tuổi. Cung Đại vận thuộc Thủy, khắc mệnh Hỏa, mất Địa lợi, nhưng cũng kéo lại phần nào là vì cung Âm đồng mệnh Âm. Bộ sao nặng về Tử Phủ Vũ Tướng, thuộc Dương cùng với bộ Sát Phá Liêm Tham được lợi lạc. Tuy hành cung Đại vận khắc hành Mệnh, nhưng cũng được khá. Trong đại hạn này, đương số sống cuộc đời nhiều biến cô, chen lẫn tốt với xấu. Đường công danh thi trượt nhiều lần, nhưng đi làm, thi đậu đi làm chức cao, nhưng rồi lại bỏ việc, sống khổ một thời gian ngắn, rồi lại khá lên. Đường vợ con: lấy vợ, sanh con. Sức khỏe: mang những bệnh nặng trong người tưởng khó thể qua khỏi, nhưng rồi vẫn sống được. Tóm lại: nhiều bước thăng trầm, nhưng vẫn khá.

Đại vận 32-41 – Tại Tuất, tam hợp Dần Ngọ Tuất thuộc Hỏa, vậy là tam hợp tuổi bị sinh xuất (Mộc sinh Hỏa).
Đại vận ở cung Thổ, mạng Hỏa, vậy là Mạng bị sinh xuất. Hai yếu tố Thiên thời, Địa lợi bị kém, chủ về sự lao đao. Về bộ sao thấy có Cơ Lương chiếu, Cự Nhật chiếu, chủ về sự giảm kém. Đương số quả gặp những bước lao đao, gây được một ít tài sản lại phải bỏ đi cư gặp mấy lần hạn nặng (vì chánh trị, cụ Ngô Đình Diệm cho đi nằm ấp), một lần đau nặng cả năm trời tưởng chết, nhiều lần thay đổi chỗ ở. Mặc dầu làm việc nhiều nhưng chỉ đủ ăn.

Đại vận 42-51 – Tại Dậu, thuộc Tị Dậu Sửu hành Kim, khắc tam hợp tuổi thuộc Mộc, là mất Thiên thời. Cung Đại vận thuộc hành Kim, hành Hỏa của Mạng khắc Kim, tuy là khắc xuất không nặng bằng khắc nhập, nhưng cũng là xấu, tuy chế ngự được hoàn cảnh và có những thành công, nhưng phải khổ công hoạt động rất nhiều. Được Nhân hòa đúng bộ Sát Phá Liêm Tham như tại Mệnh. Lại được thêm một yếu tố quan trọng: sao Triệt tại đây cởi gỡ cái Tuần của Mệnh nên vận mạng sáng ra, được ổn định hơn.
Đương số trải qua những phen hứng khởi, hoạt động nhiều, đường làm ăn đều hòa hơn, tuy có vài trận đau ốm. Nhưng gọi là thành công như ý muốn thì không có. Tuy nhiên, việc làm ăn, hoạt động và hứng khởi, đều hơn trước, khá hơn trước, cho phép sắm sửa trong nhà, sống sung túc hơn.

Đại vận 52-61 – Đại vận tại Thân, thuộc Thân Tí Thìn, Thủy sinh cho Mộc của tam hợp tuổi. Được Thiên thời, cung Đại vận thuộc Kim, so với mệnh Hỏa là khắc nhập: vẫn phải tranh đấu nhiều để khắc phục hoàn cảnh. Chính tinh gặp thế Cơ Nguyệt Đồng Lương và Cự Nhật Đại vận phải giảm kém. Mất yếu tố Triệt cởi gỡ Tuần trong Đại vận trước. Tuy nhiên, yếu tố Thiên thời là quan trọng.
Trong đại vận này, đương số đã bị một vài tật bệnh tưởng nguy nhưng thoát cả. Việc làm ăn được đều hòa và có phần sung túc nhờ được người tốt giúp đỡ. Nhưng đại vận này mới được phân nửa, chưa cho biết rõ hơn.
Muốn rõ chi tiết, phải coi nhưng trung tinh và hung tinh khác trong các cung.

Sự quan trọng của yếu tố Đại vận

-Yếu tố Đại vận rất quan trọng vì nó đứng chủ cho các tiểu vận. Các tiểu vận khá hay xấu là do Đại vận mà ra.

-Phần nào, Đại vận cho phép bốc lên một cách khốc liệt theo Mạng, hoặc có thể vùi dập xuống đến đất đen.
Như một người Mệnh thường nhưng mấy chục năm, chỉ làm những công việc thông thường. Nhưng gặp Đại vận được cả ba yếu tố Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa, bổng bộc phát dữ dội. Nhưng qua khỏi Đại vận đó, lại tụt thang, trở về nếp sống cũ.

-Một sinh viên có một cung mệnh rất tốt, tương lai huy hoàng. Gặp phải đại vận mà cả ba yếu tố Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa cùng hỏng, thế là đương nhẹ bước thang mây và có tương lai hứa hẹn huy hoàng, anh ta bị nạn lớn và từ trần. Xem lá số, không thấy Mệnh và Phúc chỉ sự yểu vong – nhưng xem đến Đại vận, thấy hỏng cả mấy yếu tố, nên chết. Đại vận thật là ghê gớm vậy (lá số của anh sinh viên này sẽ được cụ Thiên Lương dẫn giải trong số giai phẩm tới)

Đó chỉ là một yếu tố để ấn định tai họa nặng. Cũng có những lá số được Thiên thời hay Địa Lợi hay Nhân Hòa, nhưng bị chết, là vì còn những yếu tố khác.

KHHB số 74G2

Trả lời bài viết

Quay về “Luận giải Tử vi”

Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: 1110 khách.