Trích Thiên Tủy - 9 chương đầu được dịnh bởi vnn1269

Các bài viết học thuật về môn tứ trụ (tử bình, bát tự)
VULONG
Tam đẳng
Tam đẳng
Bài viết: 702
Tham gia: 22:55, 23/12/09

TL: Trích Thiên Tủy - 9 chương đầu được dịnh bởi vnn1269

Gửi bài gửi bởi VULONG » 06:34, 28/01/14

Nguyên chú: Như giáp mộc sanh tháng dần, mão thìn; bính hỏa sinh tháng ngọ, mùi đều là hình toàn. Mậu thổ sinh tháng dần, mão, thìn; canh kim sinh tháng tị ngọ mùi đều là hình khuyết.
Nhâm thị viết: Thuyết hình toàn nên tổn, hình khuyết nên bổ, tức tử bình “vượng nên tiết nên thương, suy tắc mừng trợ mừng sinh”. Sách về mệnh lý vạn quyền, không ngoài 2 cú này, cổ nhân nghiên cứu thâm ảo dị thường, tác dụng thật chí lý, cốt tủy vượng dụng tiết dụng thương, suy dụng sinh dụng trợ. Mới thấy cát hung đảo điên, sinh ra nghi kỵ, nên luận mệnh cần phân biệt cho tỏ tường.
Nên tiết hóa được tiết hóa là đẹp nhất, nên khắc chế được khắc chế là có công. Tiết hóa thì dùng thực thương, khắc chế thì dùng quan sát. Cùng là vượng mà có khi tiết hóa lại hại họa, khắc chế lại có lợi; hoặc tiết hóa có lợi, khắc chế có hại, cho nên tiết hóa khắc chế cần nên phân rõ để dụng cho đúng.
Nên trợ được trợ thì tốt, nên sinh được sinh thì cát lợi. Trợ thì dùng tỉ kiếp, sinh thì dùng ấn thụ. Đều là suy mà có khi trợ lại hung, sinh thì được cát; hoặc trợ thì được cát, sinh lại hung hoạ. Cho nên trợ hay sinh cũng nên phân biệt tỏ tường để dụng.
Như nhật chủ vượng tướng, trong trụ tài quan vô khí suy nhược, tiết hóa tất quan tinh sẽ bị thương tổn, nên dụng khắc chế thì có lợi, dụng tiết hóa thì có hại vậy (tức lấy Tài Quan làm dụng thì cát còn lấy Thực Thương làm dụng thì hung).
Nhật chủ vượng tướng, trụ không có tài quan, cục toàn tỉ kiếp, dụng khắc chế tất có hại, dụng tiết hóa thuận theo khí thế lại có lợi (tức lấy Tài Quan làm dụng thì hung còn lấy Thực Thương làm dụng thì cát).
Nhật chủ suy nhược, trong trụ tài tinh trùng điệp, ấn thụ bị khắc nên không có gốc để sinh nhật chủ, dụng tỉ kiếp trợ nhật chủ thì cát, dụng ấn sinh nhật chủ tất hung vậy (vì Ấn bị thương tổn thành vô dụng nên phải lấy Tỷ Kiếp để trợ Thân và chế Tài mới cát).
Nhật chủ suy yếu, trong trụ quan sát thừa vượng, không cần xét vượng suy quan sát, tỉ kiếp trợ nhật chủ sẽ gây phản khắc vô tình, không bằng ấn thụ hóa quan sát sinh nhật chủ, trợ nhật chủ tắc hung họa, sinh nhật chủ tắc cát lợi (vì Ấn vừa có tác dụng hóa Quan Sát vừa có thể sinh Thân còn Tỷ Kiếp chỉ có tác dụng trợ Thân để đối đầu với Quan Sát nên dễ bị thương tổn).
Theo lời tiền nhân, mộc sanh tháng dần mão thìn, hỏa sanh tháng tị ngọ mùi là hình toàn, luận về can cũng như vận. Như mộc sanh tháng dần mão thìn, can lộ canh tân, chi tàng thân dậu, chẳng lẽ lại coi là hình toàn mà cần tổn chi? Hoả sanh tháng tị ngọ mùi, can thấu nhâm quý, chi tàng hợi tý, chẳng lẽ vẫn coi là hình toàn mà cần tổn chi? Thổ sanh tháng dần mão thìn là hình khuyết, can thấu bính đinh, chi tàng ngọ lại cho là hình khuyết mà cần bổ chi? Phàm nghiên cứu cái cơ lý vượng biến nhược, nhược biến vượng, không thể cố chấp được vậy.
71 - Đinh sửu canh tuất canh tý giáp thân
Kỷ dậu/ mậu thân/ đinh mùi/ bính ngọ/ ất tị/ giáp thìn
Trụ này kim sanh mùa thu cứng sắc ngọn, quan tinh suy nhược hư thoát, không thể khắc chế, tài tinh lâm tuyệt, lại còn sanh quan. Sơ vận thổ kim, tiết hỏa sanh kim, hình thương phá tán; đinh mùi, bính ngọ trợ khởi quan tinh, gia nghiệp hưng thịnh; ất tị vận thật đẹp, thương khắc nhật chủ có công vậy.
Nhật chủ thuộc kim rất cần dụng hỏa, vì hỏa luyện kim mà diệu dụng. Trụ này sanh vào tháng tuất, hỏa khố nên đinh hỏa còn có gốc, có thể làm dụng thần.
72 - Mậu thân nhâm tuất canh thân ất dậu
Quý hợi/ giáp tý/ ất sửu/ bính dần/ đinh mão/ mậu thìn
Mệnh này canh hợp ất hóa kim, không thấy quan tinh, chi toàn thân dậu kim vượng, nhật chủ lại tọa thân kim lộc vượng, quyền tại mộc phương kim cục. Nên hóa không nên khắc, tuy can nhâm thấu, bị mậu thổ khắc nên không thể dẫn thông tiết kim, Sơ vận quý hợi, vận cát lợi; giao vận bính dần, khắc chế kim, một đời nhất bại như vôi, cơm áo gian nan, tự tử. Trụ này gọi là tiết hóa chi cát lợi, khắc chế chi có hại vậy.
73 - Canh thân tân tị bính thìn ất mùi
Nhâm ngọ/ quý mùi/ giáp thân/ ất dậu/ bính tuất/ đinh hợi
Mệnh này theo tục luận, bính hỏa sanh tháng tị, kiến lộc nhật chủ vượng tất nên dụng tài. Không biết canh tân trọng điệp thâm căn, độc nhất ất lộ ấn tinh thụ thương, nhật chủ nhược cũng biết hĩ. Vận giáp thân, ất dậu, kim đắc địa mộc vô căn phá háo dị thường; bính tuất đinh vận, trùng chấn gia phong, vận đẹp. Mệnh này tài đa thân nhược, nên tỉ kiếp trợ thân tất cát lợi.
74 - Nhâm tý quý sửu bính ngọ nhâm thìn
Giáp dần/ ất mão/ bính thìn/ đinh tị/ mậu ngọ/ kỷ mùi
Mệnh này quan sát cường vượng, nhật chủ cô thế suy nhược, tuy không có thực thương, nhưng sửu thìn thuộc thấp thổ, có thể dưỡng thủy, không ngăn thủy. Sơ vận giáp dần, ất mão hóa sát sanh thân, sớm nhập học, tiền của có thừa; giao vận bính thìn, chẳng những không trợ thân, mà ngược lại bị quan sát hồi khắc, hình thê khắc tử, gia nghiệp hao tán; năm thân ám hợp sát cục mà chết. Mệnh này sinh chi tắc cát lợi, trợ chi tất phản hại vậy.
Trụ này quan sát thừa vượng, can thấu nhâm quý, chi tàng tý sửu thìn toàn là thủy vượng. Nhật chủ bính tọa ngọ hỏa, ngọ không thông căn, không được sanh trợ, tý xung ngọ, lại có sửu thìn kề sát (thuộc thấp thổ) hối hỏa sanh kim, nên cực nhược. Cần phải dụng mộc ấn tinh hóa sát sanh nhật chủ. Khi gặp vận bính thìn, nhâm khắc bính quá nặng, liền gặp tai họa. Nếu trong trụ can lộ giáp ất hóa nhâm quý thủy bảo hộ hỏa thì không đến nỗi nào.

VULONG
Tam đẳng
Tam đẳng
Bài viết: 702
Tham gia: 22:55, 23/12/09

TL: Trích Thiên Tủy - 9 chương đầu được dịnh bởi vnn1269

Gửi bài gửi bởi VULONG » 06:39, 28/01/14

Chương 11 - Phương Cục
Nguyên chú: ???
Nhâm thị viết: Mười hai chi có dần mão thìn tam hội mộc cục phương đông; tị ngọ mùi hỏa cục phương nam; thân dậu tuất kim cục phương tây; hợi tý sửu thủy cục phương bắc. Phàm tam hội cục là thành một phương cục, như tam hội cục dần mão thìn lực lượng mạnh hơn tam hợp hợi mão mùi. Ngày mậu thổ sinh tháng dần, gặp tam hội mộc cục, đều luận là sát cục; sinh tháng mão, gặp tam hội mộc cục, luận là quan cục, ngày kỷ thổ thì ngược lại. Sinh tháng thìn, cần xem thế của dần mão, phân biệt khinh trọng cho rõ ràng, nặng là sát, còn lại là quan; Nếu chỉ là bán hội, tất nhất định không như tam hội, nói phương cục hỗn chi là ý nói hỗn tạp, như mộc cục gặp chi hợi thủy, sanh vượng mộc cục; hoặc mộc cục gặp chi mùi, vừa lại là nơi mộ của mộc. Dụng tam hợp cục, sách có sai lệch nhiều? Về phần hiệu dụng, hợp cục tất dụng đa, mà phương cục dụng hợp, không luận phương mà giải thích gượng gạo vậy.
75 - Giáp dần đinh mão mậu thìn kỷ mùi
Mậu thìn/ kỷ tị/ canh ngọ/ tân mùi/ nhâm thân/ quý dậu
Mệnh này tam hội mộc cục, lại có chi mùi là hỗn cục, tuy nhiên nếu không có mùi thổ tất nhật chủ mậu thổ hư nhược, với lại thiên can giáp mộc thấu xuất tất là sát, không phải quan, nhật chủ cần có mùi thổ trợ thân mới có thể gánh được sát tinh, thân sát đều vượng, danh lợi song huy. Xuất thân thế gia, làm quan cực phẩn, mới biết phương hỗn cục vô hại vậy.
76 - Bính thìn canh dần ất mão đinh hợi
Tân mão/ nhâm thìn/ quý tị/ giáp ngọ/ ất mùi/ bính thân/ đinh dậu
Mệnh này chi tam hội mộc cục, hoả sáng thì mộc được tú khí, mừng nhất bính hỏa khắc canh kim, ất mộc sinh tháng dần, đắc hợi thủy sinh trợ. Phong lưu tiêu sài, học vấn uyên thâm. Đinh hợi sinh mộc trợ hỏa, rất cần nhờ vào mộc; vận quý tị danh cao chức trọng thiên triều; vận giáp ngọ bán hợp dần mộc hóa hỏa được mão mộc sinh, trở thành trụ cột họ đặng lâm, ra sức vơ vét tài vật, là chỗ dựa gia tộc, đến vận đinh dậu, ất mộc vô căn, kim đắc địa, phá mất tam hội cục tú khí, phạm tội mất chức, nếu không có hợi thủy hóa dậu kim, làm sao có thể miễn đại hung!
Nhâm thị viết: Địa chi tam hợp cục như hợi mão mùi mộc cục, dần ngọ tuất hỏacục, tị dậu sửu kim cục, thân tý thìn thủy cục, đều dẫn đến một hành cực vượng. Trong trụ ngộ tam hợp cục, lực cát hung hiển hiện rất rõ. Hai chi cũng có thể hợp (tức bán hợp), tuy nhiên phải có vượng chi, hoặc hợi mão hoặc mão mùi đều là bán hợp mộc cục, mão là vượng chi, hợi chỉ là thứ chi. Phàm tam hợp cục rất kỵ xung, như hợi mão mùi mộc cục, lại lẫn lộn chi dậu sửu ở giữa trong trụ, mà thành phá cục. Tuy trong trụ có tạp địa chi xung cục, nhưng không kề sát, hoặc chi xung ở bên ngoài, thì hội cục cùng với tổn cục đều thiệt hại. Về hai chi hội cục, mà tương trợ nhau thì đẹp, gặp xung nhất định cục bị phá.
Hành vận cần phân biệt nam bắc sinh khắc cục. Như mộc cục, nhật chủ là giáp ất, tứ trụ thuần mộc, không có hỗn tạp trong trụ, vận hành phương nam tú khí lưu hành tất thuần; Hành vận phương bắc, bị sinh trợ quá mạnh, không tốt nhưng có cứu. Hoặc can chi có hỏa thổ, vận hành nam phương, danh lợi đầy đủ; vận hành phương bắc, lập tức gặp tai họa vậy.
77 - Giáp dần ất hợi ất mão quý mùi
Bính tý/ đinh sửu/ mậu dần/ kỷ mão/ canh thìn/ tân tị/ nhâm ngọ/ quý mùi
Mệnh này tam hợp mộc cục, chi còn lại dần mộc, tuy nhiên tứ trụ vô kim, thế mộc cực vượng, đắc một phương tú khí. Thiếu niên khoa giáp, duy vận canh thìn tân tị, tuy có quý thủy tiết hóa kim (can vận canh tân), nhưng cũng không tránh khỏi hình tang nổi sóng, quan lộ gian nan. Đến sáu mươi tuổi, vận nhâm ngọ quý mùi, thăng Tư Mã huyền lệnh, tiếp đến tiến triều ca mà thăng quan, quyền lớn như biển, ai có thể ngự chế! Bởi vậy xem chi, mộc cục cường vượng, vận hành đông nam bắc đều cát lợi, duy kỵ phương tây kim vận khắc hại phá tán.
Trụ này mộc vượng, nhật chủ thuộc mộc, lại không có hỏa nên hành vận hỏa, thủy, mộc đều cát lợi. Chỉ duy gặp vận kim vượng khắc chế mộc, phá cục là tai họa liền gặp. Nếu trong trụ có hỏa, gặp vận thủy cũng thật đáng ngại.
78 - Giáp dần đinh mão ất mùi đinh hợi
Mậu thìn/ kỷ tị/ canh ngọ/ tân mùi/ nhâm thân/ quý dậu
Mệnh này cũng tam hợp mộc cục, chi còn lại dần mộc. Dụng đinh hỏa thực thần tú khí, khác mệnh trên luận tòng mộc vượng vậy. Đến vận kỷ tị, đinh hỏa lâm quan, đăng khoa giáp bảng công danh hiển lộ; vận canh ngọ tân mùi, nam phương là nơi bại địa của canh tân kim, không thể thương khắc dụng thần, quan lộ bình yên. Nhâm thân vận, mộc hỏa giai thương, phá tam hợp cục, chết trong quân. Mệnh trên tòng cường, nam bắc đều cát lợi; mệnh này dụng mộc hỏa, vận trình tây bắc đều có hại. Bởi vậy xem hai mệnh thấy, cục hỗn phương vô hại vậy.
Nhâm thị viết: Phương cục cùng có (tam hợp, tam hội) là hỗn cục. Như dần mão thìn với mùi; hợi mão mùi với dần, thìn; tị ngọ mùi với tuất; dần ngọ tuất với tị mùi; thân dậu tuất với tị, sửu; tị dậu sửu với thân, tuất; hợi tý sửu với thân, thìn; thân tý thìn với sửu, hợi. Can vô phản phục, phương cục cùng có, khí thế vượng cực, cần nhất thiên can thuận theo khí thế sẽ cát lợi, tuyệt vời (ý nói dụng thực thương tốt đẹp). Nếu địa chi dần mão thìn, nhật chủ thuộc mộc, lại gặp hợi chi sanh, mùi chi khố; hoặc địa chi hợi mão mùi, nhật chủ thuộc mộc, hoặc có dần thìn trong trụ, hoặc gặp vận chi dần thìn, nên mộc cực vượng; kim không năng khắc mộc, cần nhất thiên can thấu hỏa, tiết khí tinh anh, thiên can không thấu kim thủy tức can vô phản phục, tiếp đến thổ vận, tức toàn thuận đắc. Nếu như thiên can không thấu hỏa nhưng vẫn sanh mộc, gặp hung có thể giải. Ngược lại thấu can hỏa lẫn can thủy, hoặc vô can hỏa mà lại thấu can kim đều là can phản phục, gặp vận thổ tất có thể ngăn thủy bảo hộ hỏa, gặp hỏa tất có thể khắc kim, cũng khá tốt. Như nhật can thuộc thổ, thiên can đắc hỏa là tương sinh, cũng không phản phục; nhưng can hỏa lại gặp can kim tức thế cô địch cường bạo, gặp can thủy sanh trợ cường thần tất phản phục. Cho nên can chế chi cần phải thịnh, nếu nhược cần phải hóa chi mới đẹp.
.
79 - Giáp dần đinh mão ất hợi quý mùi
Mậu thìn/ kỷ tị/ canh ngọ/ tân mùi/ nhâm thân/ quý dậu
Mệnh này phương cục đều có (tam hợp cục lại thêm bán hội cục), can đinh hỏa đắc lệnh tháng độc thấu xuất, phát tiết tinh anh, kỳ diệu vậy. Đáng tiếc là thiên can quý thủy thấu xuất, thông căn hợi thủy. Khắc thương đinh hỏa tú khí, tức thiên can tương hại nhau, nghèo khổ không con cái. Giả sử thay quý thủy bằng một can hỏa hoặc thổ, danh lợi toại mỹ vậy.
80 - Đinh mão giáp thìn giáp dần ất hợi
Quý mão/ nhâm dần/ tân sửu/ canh tý/ kỷ hợi/ mậu tuất
Mệnh này cũng phương cục đều có (tam hội cục lại thêm bán hợp cục), thiên can vô thủy, đinh hỏa tú khí lưu hành, hành vận không phản khắc. Hương bảng, sĩ chí châu mục, con cái đầy đủ, tiền tài dư dả, tính nhân từ phúc hậu phẩm hạnh, thọ đến tám mươi tuổi, vợ chồng thương yêu. Bởi vậy xem hai mệnh, thấy rằng can phản phục thật họa không nhỏ.
Nguyên chú: Trụ dần mão thìn hội mộc cục, nhật chủ giáp ất, là thấu nguyên thần, mà lại ngộ hợi thủy, mùi thổ quyết không phát phúc, duy thuần nhất hỏa vận mới tốt đẹp.
Nhâm thị viết : Thành một phương can thấu nguyên thần, nhật chủ đồng khí phương cục. Như mộc phương (hội mộc cục) ngày chủ thuộc mộc, hỏa phương ngày chủ thuộc hỏa, tức là nguyên thần lộ ra. Lại có sanh địa, khố địa thì không phát phúc được, thân vượng thì không nên sinh trợ thêm vậy. Tuy nhiên, xem khí thế không thể cố chấp, quá nguyên tắc được. Thành phương thấu nguyên thần, dễ biết nhật chủ vượng, không nên gặp hành vận sanh địa, khố địa, phương tỉ kiếp cũng vậy. Nhưng can năm, can tháng, can giờ không tạp tài quan, lại có kiếp ấn, cũng có thể phát phúc. Như gặp thuần nhất hỏa vận, chân vị tú khí lưu hành. Như can năm tháng giờ, tài quan vô khí, lại gặp hành vận sanh khố địa, chẳng những không thể phát phúc mà còn hình tang hao tán.
81 - Mậu dần giáp dần giáp thìn đinh mão
Ất mão/ bính thìn/ đinh tị/ mậu ngọ/ kỷ mùi/ canh thân
Mệnh này thành tam hội cục, can thấu nguyên thần, tứ trụ không tạp kim thủy, can đinh hỏa thổ tú, thuần cách. Sơ vận hỏa thổ, trung hương bảng, danh lợi song toàn; nhiều mộc hỏa bị mờ, đinh hỏa không thể tiết hóa mộc, cho nên đến vận canh thân, không thể tránh gặp họa.
82 - Quý mão bính thìn giáp thìn bính dần
Ất mão/ giáp dần/ quý sửu/ nhâm tý/ tân hợi/ canh tuất
Mệnh này tài vượng, bính thực sanh tài, dụng tài vi diệu, bính hỏa là hỉ thần, kỵ quý thủy. Thân vượng dụng tài, thừa hưởng tổ nghiệp hơn mười vạn, sơ vận thủy mộc, nhất bại như vôi; đến vận tân hợi, hỏa tuyệt mộc sanh, thủy lâm vượng địa, mất mạng. Nên xem mệnh, bất luận thành phương cục, trước tiên cần xem thế tài quan. Nếu tài vượng, tất dụng tài; hoặc quan được tài tương sinh, tất dụng quan; như tài không thông lệnh tháng, quan có được tài sinh cũng không vượng được, tất dụng thực thương cát lợi.

Nguyên chú: Ngày giáp ất ngộ hợi mão mùi tam hợp mộc cục, canh tân là quan sát, lại thấy tả thìn hữu dần tất danh lợi không có.
Nhâm thị viết: Địa chi hội mộc cục, nhật chủ nguyên thần lộ ra, lấy tân làm quan, canh làm sát, hư thoát vô khí, can thổ thấu xuất, thổ cũng hưu tù, không thể sanh kim, địa chi có thân, dậu, sửu thì đẹp. Nếu không có thân, dậu, sửu mà lại tàng thìn dần, tất mộc thế quá thịnh, kim thế quá suy, chung thân danh lợi vô thành. Nếu đắc tuế vận khắc quan tinh, cũng sẽ phát đạt, cần trong trụ trước tiên phải có thực thương, kế đến không gặp hành vận quan sát, danh lợi có thể toại nguyện.
83 - Tân mùi tân mão ất mùi đinh hợi
Canh dần/ kỷ sửu/ mậu tý/ đinh hợi/ bính tuất/ ất dậu
Mệnh này tam hợp mộc cục, mộc thế thịnh vượng, kim khí hư thoát, mừng có đinh hỏa thấu xuất, chế sát làm dụng thần. Sơ vận thổ kim, bôn ba vất vả; đinh hợi vận, hóa mộc chế sát, được phong phó tướng; bính tuất vận tuất tàng đinh khắc tân kim, thăng huyện lệnh. Mệnh này cường chúng mà địch quả (ý nói thuận theo cường thịnh mà khắc chế suy nhược), sát không vượng nên chế phục vậy. Đến dậu vận, sát phùng lộc vượng, phá mất mộc cục thất lộc.
84 - Tân mùi tân mão ất mùi mậu dần
Canh dần/ kỷ sửu/ mậu tý/ đinh hợi/ bính tuất/ ất dậu
Mệnh này ất mộc quá vượng, tuy không hội mộc cục, nhưng dần mộc so với hợi thủy còn mạnh hơn. Xem trụ thấy ba thổ, hai kim, tựa hồ quan sát sinh vượng, chẳng biết đề cương tháng mão vượng, chi tàng dần mộc căn vượng, địa chi không có thân dậu sửu. Sơ vận thổ kim chi hương, gia nghiệp hưng thịnh; giao vận đinh hợi, chế sát hội cục, hình thê khắc tử, phá háo dị thường, phạm tội mất chức, u buồn mà chết.
85 - Canh dần kỷ mão ất hợi quý mùi
Canh thìn/ tân tị/ nhâm ngọ/ quý mùi/ giáp thân/ ất dậu
Mệnh này hợp mộc cục chi tàng dần mộc, can thấu canh kim, hai bên không có sinh trợ, tứ trụ vô tình, dụng tài tất tài bị kiếp đoạt, dụng quan tất quan lâm tuyệt địa, dụng thần không căn gốc, làm người thiếu ý chí, tâm không chuyên nhất, mới biết gia nghiệp phá tán. Đọc sách không thành tựu, học y thuật cũng không thành, học dịch, học mệnh, sở học quá nhiều, chẳng kể cho hết mà chẳng thành tựu được môn nào, xuất giá làm tăng nhân.
Nguyên chú: Ngày giáp ất ngộ hợi mão mùi tam hợp mộc cục, canh tân là quan sát, lại thấy tả thìn hữu dần tất danh lợi không có.
Nhâm thị viết: Địa chi hội mộc cục, nhật chủ nguyên thần lộ ra, lấy tân làm quan, canh làm sát, hư thoát vô khí, can thổ thấu xuất, thổ cũng hưu tù, không thể sanh kim, địa chi có thân, dậu, sửu thì đẹp. Nếu không có thân, dậu, sửu mà lại tàng thìn dần, tất mộc thế quá thịnh, kim thế quá suy, chung thân danh lợi vô thành. Nếu đắc tuế vận khắc quan tinh, cũng sẽ phát đạt, cần trong trụ trước tiên phải có thực thương, kế đến không gặp hành vận quan sát, danh lợi có thể toại nguyện.
83 - Tân mùi tân mão ất mùi đinh hợi
Canh dần/ kỷ sửu/ mậu tý/ đinh hợi/ bính tuất/ ất dậu
Mệnh này tam hợp mộc cục, mộc thế thịnh vượng, kim khí hư thoát, mừng có đinh hỏa thấu xuất, chế sát làm dụng thần. Sơ vận thổ kim, bôn ba vất vả; đinh hợi vận, hóa mộc chế sát, được phong phó tướng; bính tuất vận tuất tàng đinh khắc tân kim, thăng huyện lệnh. Mệnh này cường chúng mà địch quả (ý nói thuận theo cường thịnh mà khắc chế suy nhược), sát không vượng nên chế phục vậy. Đến dậu vận, sát phùng lộc vượng, phá mất mộc cục thất lộc.
84 - Tân mùi tân mão ất mùi mậu dần
Canh dần/ kỷ sửu/ mậu tý/ đinh hợi/ bính tuất/ ất dậu
Mệnh này ất mộc quá vượng, tuy không hội mộc cục, nhưng dần mộc so với hợi thủy còn mạnh hơn. Xem trụ thấy ba thổ, hai kim, tựa hồ quan sát sinh vượng, chẳng biết đề cương tháng mão vượng, chi tàng dần mộc căn vượng, địa chi không có thân dậu sửu. Sơ vận thổ kim chi hương, gia nghiệp hưng thịnh; giao vận đinh hợi, chế sát hội cục, hình thê khắc tử, phá háo dị thường, phạm tội mất chức, u buồn mà chết.
85 - Canh dần kỷ mão ất hợi quý mùi
Canh thìn/ tân tị/ nhâm ngọ/ quý mùi/ giáp thân/ ất dậu
Mệnh này hợp mộc cục chi tàng dần mộc, can thấu canh kim, hai bên không có sinh trợ, tứ trụ vô tình, dụng tài tất tài bị kiếp đoạt, dụng quan tất quan lâm tuyệt địa, dụng thần không căn gốc, làm người thiếu ý chí, tâm không chuyên nhất, mới biết gia nghiệp phá tán. Đọc sách không thành tựu, học y thuật cũng không thành, học dịch, học mệnh, sở học quá nhiều, chẳng kể cho hết mà chẳng thành tựu được môn nào, xuất giá làm tăng nhân.

VULONG
Tam đẳng
Tam đẳng
Bài viết: 702
Tham gia: 22:55, 23/12/09

TL: Trích Thiên Tủy - 9 chương đầu được dịnh bởi vnn1269

Gửi bài gửi bởi VULONG » 06:50, 28/01/14

Chương 12 - Bát Cách
Nguyên chú: ???
Nhâm thị viết: Bát cách, mấu chốt luận mệnh. Trước xem có đắc lệnh tháng, sau xem thiên can có thấu lộ, kế tiếp xem sinh vượng để định chân giả, cuối cùng mới đến thủ dụng, phân thanh trọc, như vậy thật mới theo thuận lý, nếu đắc lệnh tháng lại phùng lộc nhận, không theo cách cục nào có thể thủ dụng, cần phải xem xét nhật chủ hỉ kỵ không ngoài tìm thiên can thấu xuất, nhờ đó có thể làm dụng thần. Tuy nhiên cách cục có chánh, có biến. Chánh cách tức gồm đủ ngũ hành sinh khắc thường tình như quan sanh ấn, sát sanh ấn, tài sanh sát, thực chế sát, thực sanh tài, thương quan bội ấn, thương quan sanh tài; biến cách nhất định phải tòng khí thế của ngũ hành, có tòng tài khi tài vượng, tòng quan sát, tòng thực thương, tòng vượng cách (thuận theo hành khí vượng), tòng nhược cách (thuận theo hành khí suy nhược), tòng thế, một hành đắc khí, hai khí thành hình; còn lại ngoại cách dị cục không theo lý, tòng ngũ hành chỉ là lời sai lầm. Đến như “Lan thai diệu tuyển”, định kỳ cách dị cục, nạp âm chư pháp, không cần phải biện giải mà có thể biết ngay là hoang đường vậy. Như nói về cát hung thần sát, ngày nhâm thìn là “vương kỵ long bối”, nhâm dần là “vương kỵ hổ bối” đều không đáng tin vậy! sao không có nhâm ngọ, nhâm thân, nhâm tuất, nhâm tý kỵ hầu, mã, chuột, chó!!! “lục âm triều dương”, “thử quý cách”..… đều là ngụy thư, học giả cần nên nghiên cứu ngũ hành chi lý cho tường tận vậy, không nên loạn ngôn làm mê hoặc lòng người.
86 - Canh thìn quý mùi ất mùi quý mùi
Giáp thân/ ất dậu/ bính tuất/ đinh hợi/ mậu tý/ kỷ sửu
Mệnh này chi tàng ba mùi, nhật chủ còn dư khí, can thấu hai quý, sanh phù ất mộc, quý thông căn thủy khố. Quan tinh độc thấu canh kim, quý thủy nhuận thổ dưỡng kim, sanh hóa hữu tình, tài vượng sanh quan, đắc trung hòa. Xuất thân khoa giáp, làm quan đến chức tướng soái, một đời cát lợi an bình.
.
87 - Kỷ sửu nhâm thân đinh mùi bính ngọ
Tân mùi/ canh ngọ/ kỷ tị/ mậu thìn/ đinh mão/ bính dần
Mệnh này xem qua thấy tổng quát tương đồng với mệnh trên, quan tinh đắc thế, hà cớ sao trên đắc phú quý, mệnh này lại khốn cùng? Chẳng biết rằng mệnh này không có ấn, quan khắc nhật chủ, ngọ mùi tuy hỏa còn dư khí lộc vượng, sửu chứa quý thủy ám thương ngọ mùi, nhâm thủy phùng sanh, lại khắc bính hỏa, đáng ngại kỷ thổ nhất thấu, không thể chế thủy, ngược lại tiết hỏa; lại phùng thổ vận, tiết hỏa khí, khắc tiết quá nhiều. Công danh bất thành, tài hao phá tán, không khỏi hình thê khắc tử. Nghiên cứu kỹ thấy kỷ sửu thật hại, về sau gặp vận thủy mộc, tuy là tiền vận gặp lận đận, nhưng chung thân vào hậu vận nhất định hanh thông thuận lợi.
88 - Quý mùi ất mão bính ngọ tân mão
Giáp dần/ quý sửu/ nhâm tý/ tân hợi/ canh tuất/ kỷ dậu
Mệnh này chánh cách quan thanh ấn, mừng mão mùi ám hợp mộc cục, là người nhân phẩm siêu quần, tài hoa trác tuyệt, văn vọng cao như núi bắc đẩu, phẩm hạnh như lương ngọc kim tinh. Tuy nhiên ấn tinh quá vượng, quan tinh tiết khí, thần có thừa mà tinh không đủ, đến nỗi công danh lận đận, còn trẻ khó được toại nguyện về danh lợi, mừng là cách chánh cục thanh, tài tinh gặp hợp, tuy tài cao mà ít được trọng dụng, cuối cùng danh lợi song toàn, làm quan thanh cao.
89 - Tân mão bính thân quý mão nhâm tuất
Ất mùi/ giáp ngọ/ quý tị/ nhâm thìn/ tân mão/ canh dần
Mệnh này ấn thụ cách, lấy thân kim làm dụng thần, bính hỏa lâm bệnh địa, nhâm thủy thấu xuất là dược, tức bệnh có cứu, ngũ hành cân bằng, thu lệnh thủy thông nguyên. Vận quý tị, kim thủy phùng sanh trợ, khoa giáp liên đăng; nhâm thìn vận gặp bệnh có thuốc cứu, làm đến huyện lệnh; vận tân mão, canh dần phùng kim không thể sanh hỏa mà trở thành ấn sinh nhật chủ, danh lợi song toàn.
90 - Tân mão bính thân quý mão giáp dần
Ất mùi/ giáp ngọ/ quý tị/ nhâm thìn/ tân mão/ canh dần
Mệnh này cũng lấy thân kim làm dụng thần, bính hỏa lâm bệnh địa, cùng mệnh trên chỉ khác một dần mộc, chẳng những có bệnh mà không có thuốc, mà còn sanh trợ bệnh thần. Trên danh lợi song toàn, mệnh này có bệnh không thuốc, gặp đúng vận mới khá được. Hiềm dần thân xung nhau, mão mộc trợ dần, ấn thụ thân kim thụ thương, mộc vượng kim khuyết, hiềm lệnh tháng thuộc lục thân, khó tránh bị chia lìa, tiền tài hao tán. Nhâm vận trợ thân kim khử đi bệnh, tài nguyên đầy đủ; tân mão, canh dần thuộc phương đông, kim vô căn, công danh không thể tiến thủ, gia nghiệp không khá. Tuy nhiên nhờ cách cục chân chánh, ấn tinh nắm lệnh, cho nên tâm tình khoáng đạt, văn Chương tài hoa xuất chúng. Chỉ hiềm lộ ra lệnh tháng thân kim bị xung, không tránh khỏi trầm luân khổ ải.
Bởi vậy xem mệnh, cách cục không thể luận cố chấp vậy, không cần câu nệ tài quan ấn cách, cùng nhật chủ vô can. Nhật chủ vượng cần nên chế, suy cần nên tương trợ, ấn vượng tiết quan cần có tài, ấn suy phùng tài nên có kiếp, dụng pháp này không thay đổi.
Nhâm thị viết: Xuất phát từ Diêu hệ, tức ám xung ám hợp chi cách. Tục thư luận phi thiên lộc mã cách. Như ngày bính ngọ, chi toàn 3 ngọ, ngày quý dậu chi toàn 3 dậu, ngọ ám xung tý thủy làm quan, dậu ám hợp thìn thổ làm quan. Trên có xung tài hợp tài, như ngày nhâm tý chi toàn 3 tý, ám xung ngọ hỏa làm tài; ngày ất mão chi có 3 mão, ám hợp tuất thổ làm tài. Lại nói trước tiên, tứ trụ cần không có tài quan, thì có thể xung hợp vậy. Xung thì tán, hợp thì hóa, làm sao có thể dụng được? Tứ trụ nguyên có tài quan, không nên xung hợp, huống hồ tứ trụ không có tài quan. Còn như tạp khí tài quan, cũng vẽ rắn thêm chân vẽ vời vô ích, như thìn tuất sửu mùi, không ngoài chi tàng 3 can, đều cho là tạp khí; dần thân tị hợi, cũng tàng 3 can cớ sao không luận như vậy? khố tàng dư khí, có thể nói là trở ngại, sanh địa chi thần, chẳng lẽ là phản khí? Lại cho rằng tạp khí tài quan cần nên xung thật là hàm hồ! Nếu giáp mộc sanh tháng sửu, tất tài quan tạp khí, mừng gặp mùi xung, mùi tàng đinh hỏa, khắc thương quan tinh tân kim tàng trong sửu, chính là phá cách hĩ, thiên can nếu không thấu xuất phải dụng cách cục.
Lộc phân bốn loại, lộc chi năm là bối lộc, lộc chi tháng là kiến lộc, lộc ngày là chuyên lộc, lộc giờ là quy lộc. Cho rằng kiến lộc mừng gặp quan tinh, quy lộc kỵ quan tinh, lại luận rằng chuyên lộc bối lộc sẽ đi nhiều, quy lộc không gặp quan tinh thì thanh vân đắc lộ .v.v… đều là hàm hồ. Luận mệnh cần nhất phải có căn nguyên. Đại phàm cách cục thuần nhất, trăm mệnh không có được một vậy. Còn cách cục phá hư tạp khí thì xem mười đã thấy đến tám chín đều có. Chánh cách thì dụng theo thông thường, hành vận không phản khắc, danh lợi tự nhiên; phá cách tổn hại dụng thần, thì có bệnh vậy, ưu sầu nhiều vui mừng ít. Nhưng nếu hành vận thích hợp, khử mất kỵ thần, sanh trợ dụng thần giống như người bệnh lâu ngày được thầy thuốc giỏi cứu chữa, không phú cũng quý. Không theo cách cục vẫn có thể thủ dụng, không có dụng thần vẫn có thể tìm ở vận trình. Vận trình vẫn có thể bổ những chỗ thiếu trong mệnh, khắc bỏ kỵ thần, tuy nghề nghiệp tầm thường, nhưng có thể tránh được đói rét, hoạn nạn. Nếu vận trình đã không tốt, mà còn xấu thì không bần cũng tiện; nếu chánh cách dụng chân mà gặp vận hành bội phản, trọn đời có chí mà vất vả.
91 - Kỷ tị canh ngọ bính ngọ giáp ngọ
Kỷ tị/ mậu thìn/ đinh mão/ bính dần/ ất sửu/ giáp tý/ quý hợi
Theo tục luận mệnh này ngày bính ngọ chi toàn ngọ, tứ trụ vô thủy, trung niên cũng không gặp vận thủy, cho rằng phi thiên lộc mã, danh lợi song huy, chẳng biết rằng mệnh này ngọ tàng kỷ thổ, tị tàng canh kim, nguyên thần thấu xuất can năm, can tháng, chân hỏa thổ thương quan sanh tài cách. Sơ vận kỷ tị, mậu thìn, hối hỏa sanh kim, gia nghiệp thịnh vượng (khá giàu có); đinh mão, bính dần, dụng thần thổ, kim bị thương tổn, liên tiếp ba lần bị cháy nhà, khắc hai vợ, bốn con gia nghiệp tiêu tan; đến ất sửu vận, phương bắc thấp thổ, hối hỏa sanh kim, lại hợp hóa hữu tình, kinh doanh thu nhiều lợi, nạp thiếp sanh con, trùng chấn gia phong; vận giáp tý, quý hợi phương bắc, thủy địa nhuận thổ dưỡng kim, phát tài mấy vạn, nếu luận phi thiên lộc mã, tối kỵ thủy vận hĩ!
92- Đinh sửu quý mão ất mão kỷ mão
Nhâm dần/ tân sửu/ canh tý/ kỷ hợi/ mậutuất/ đinh dậu
Ngày ất mão, sanh tháng mão, nhật nguyên cực vượng, mừng nhất gặp đinh hỏa thấu xuất, tiết kỳ tinh anh. Tiếc rằng quý thủy khắc đinh, thiên can kỷ thổ lâm tuyệt địa, không thể khắc chế quý thủy, dòng dõi danh gia không có kế tục, sơ trung vận phùng thủy mộc chi hình tang phá háo, gia nghiệp tiêu tan; mậu tuất đinh vận, kinh doanh thành công lớn, phát tài cự vạn, nếu luận phi thiên lộc mã cách, tắc mậu tuất vận bị phá tán nhiều vậy.
93 - Đinh mùi quý sửu giáp thìn giáp tuất

Nhâm tý/ tân hợi/ canh tuất/ kỷ dậu/ mậu thân/ đinh mùi
Mệnh này chi toàn tứ khố xung nhau, theo tục luận tài quan tạp khí cần xung vậy, chẳng biết sửu mùi xung nhau, không những quan tinh thụ thương, mà còn xung mất khố căn; nhật chủ tọa thìn dư khí, hiềm tuất xung thìn nên mất gốc, tài đa thân nhược; thêm thổ vượng càng xung càng vượng, nên quý thủy thụ thương. Sơ vận nhâm tý, tân hợi, thủy vượng địa, phúc lộc cha mẹ có thừa; giao vận canh tuất, tài sát thịnh vượng, hình thê khắc tử; vận kỷ dậu, mậu thân, can vận toàn thổ, khiến cho kim không thể sanh thủy, gia nghiệp tiêu tan, không con cái mà qua đời.
94- Đinh hợi quý sửu giáp tý tân mùi
Nhâm tý/ tân hợi/ canh tuất/ kỷ dậu/ mậu thân/ đinh mùi
Ngày giáp tý, sanh tháng sửu, chi đều phương bắc; thiên can tân quý, quan ấn nguyên thần phát lộ, khắc hại đinh hỏa, sửu mùi xa cách; với lại thủy thế thừa quyền, không thể xung sửu, chánh đắc trung hòa chi tượng. Cho nên vận thổ kim thủy, đắc sanh hóa hữu tình. Mệnh ở trên gặp xung, quan ấn thụ thương, danh lợi vô thành, mệnh này xung nhưng không động, danh thành lợi toại. Cho nên luận mộ khố gặp xung tất phát thật sai lầm vậy.

VULONG
Tam đẳng
Tam đẳng
Bài viết: 702
Tham gia: 22:55, 23/12/09

TL: Trích Thiên Tủy - 9 chương đầu được dịnh bởi vnn1269

Gửi bài gửi bởi VULONG » 06:53, 28/01/14

Chương 13 - Thể Dụng
Nguyên chú: ???
Nhâm thị viết: Thể là hình tượng khí cục, nếu như không có hình tượng khí cục, tức lấy nhật chủ làm thể. Dụng là dụng thần, ngoài thể dụng ra là dụng thần vậy. Nguyên chú thể dụng cùng dụng thần khác nhau, lại không thuyết minh tường tận rõ ràng, kết cục vẫn còn mơ hồ, cũng biết ngoại trừ thể dụng, không thể yêu cầu phân biệt dụng thần. Lời xưa: “Yếu tại phù chi ức chi đắc kỳ nghi”, dễ nhận thấy dụng thần là dụng, tức chân dụng thần. Vượng tất nên ức, nhược tất nên phù, tuy không thay đổi chi pháp, nhưng mà bên trong có biến đổi, chỉ có điều quyết định tại ba chữ: “nên thích hợp” . Vượng nên ức nhưng không thể ức, phản lại nên phù; nhược nên phù nhưng không thể phù, phản lại nên ức. Chỗ này là mấu chốt chân lý của mệnh lý. Ngũ hành đảo điên nhưng diệu dụng vậy. Cực cường vượng bị ức mà có hại, tất nên tòng cường mà phù cường; cực nhược được phù, phù mà uổng công vô dụng, tất nên tòng nhược mà ức nhược. Đúng là không thể lấy một phương diện mà luận vậy.
Nếu như nhật chủ vượng, đề cương hoặc quan hoặc tài hoặc thực thương, đều có thể làm dụng thần; nhật chủ suy, đặc biệt tìm tứ trụ can chi có trợ nhật chủ làm dụng thần. Đề cương tháng là lộc nhận, tức lấy đề cương làm thể, xem xét chiều hướng, lấy tứ trụ can chi thực thần tài quan, tìm thần nào hữu lực mà làm dụng thần.
Nếu như tứ trụ can chi tài sát thái vượng, nhật chủ vượng biến thành nhược, cần tìm trợ nhật chủ chế hóa tài sát làm dụng thần. Nhật chủ làm thể, nhật chủ vượng, ấn thụ nhiều, cần phải lấy tài tinh làm dụng thần; nhật chủ vượng, quan sát khinh, cũng lấy tài tinh làm dụng thần. Nhật chủ vượng, tỉ kiếp nhiều, gánh được tài tinh, lấy thực thương làm dụng thần; nhật chủ vượng, tỉ kiếp nhiều, mà tài tinh khinh, cũng lấy thực thương làm dụng thần. Nhật chủ vượng, quan tinh khinh, ấn thụ trọng điệp, lấy tài tinh làm dụng thần. Nhật chủ nhược, thực thương nhiều, lấy ấn thụ làm dụng thần (cho nên không thể cứ luận kiêu đoạt thực, cần phải phân biệt nhật chủ cường nhược theo đó mà luận); nhật chủ nhược, tài tinh vượng, tất lấy tỉ kiếp làm dụng thần. Nhật chủ cùng quan sát cân bằng, tất lấy thực thương làm dụng thần; nhật chủ cùng tài tinh cân bằng, tất lấy ấn thụ làm dụng thần. Chỗ này đều là dụng thần hợp lý vậy.
Nếu như nhật chủ không có lực, đặc biệt can hợp mà hóa, hóa thần thật, tức lấy hóa thần làm thể. Hóa thần có lực, tất lấy hóa thần làm dụng; hóa thần không đủ lực, tất lấy sanh trợ hóa thần làm dụng thần.
Cục phương khúc trực ngũ cách, nhật chủ là nguyên thần, tức lấy cách tượng làm thể, lấy sanh trợ khí tượng làm dụng thần, hoặc lấy thực thương làm dụng thần, hoặc lấy tài tinh làm dụng thần, chỉ không nên dụng quan sát. Nên xem xét tổng quát cách cục khí thế ý hướng mà làm dụng thần, không nên cứng nhắc vậy.
Nếu như không thuộc cách cục, tứ trụ lại không có dụng thần, tức hoặc cướp đoạt, hoặc bị nhàn thần hợp mất, hoặc bị xung làm tổn thương, hoặc bị kỵ thần cướp giật chiếm giữ, hoặc khách thần ngăn trở, chẳng những dụng thần không thể lo cho nhật chủ, mà nhật chủ cũng không thể chiếu cố dụng thần. Nếu đắc tuế vận phá đi hợp thần, hợp mất xung thần, chế kỵ thần, thông cách thần, thì tuế vận đó sẽ yên ổn, thuận theo tuế vận mà chọn dụng thần, cũng không thiếu cát lợi vậy.
Lời xưa “Hai ba bốn năm dụng thần, đích thực không phải tứ trụ đẹp”, thuyết này quá sai lầm. Chỉ có bát tự, mà có đến bốn năm dụng thần là quá sức, không kể nhật chủ ra, chỉ có hai chữ không làm dụng thần, nhất định không theo thuyết này. Tóm lại, có dụng thần hay không có dụng thần, nhất định vẫn có một chỗ dụng, chắc chắn không đổi vậy. Trong mệnh chỉ có hỉ dụng hai chữ, có dụng thần, nhật chủ đáng mừng, trưóc sau dựa vào dụng thần vậy, trừ dụng thần, hỉ thần, kỵ thần ra thì còn lại đều là nhàn thần khách thần vậy, học giả nên nghiên cứu tường tận. Phần nhiều dụng thần tại thiên can, sanh tất sanh, khắc tất khắc, hợp tất hợp, xung tất xung, dễ dàng thấy được ngay, mà dụng thần ở địa chi, tất có đủ loại không giống nhau, cho nên thiên can dễ xem, địa chi khó suy ra.
95- Bính dần giáp ngọ bính ngọ quý tị
Ất mùi/ bính thân/ đinh dậu/ mậu tuất/ kỷ hợi/ canh tý
Trụ này bính tọa ngọ kình dương, tháng kình dương, năm trường sanh, giờ đắc lộc, can năm tháng thấu giáp bính, lửa thiêu đốt mộc, vượng cực hĩ, chỉ có một quý thủy cực suy, buộc lòng phải tòng cường. Vận phùng mộc hỏa thổ, tiền của liên tiếp tăng thêm; trung vận thân dậu, hình tang hao tán quá nhiều; đến hợi vận, kích động hỏa mãnh liệt, gia nghiệp phá tận, mạng vong. Gọi là vượng cực, ức vượng phản lại mà có hại vậy.

VULONG
Tam đẳng
Tam đẳng
Bài viết: 702
Tham gia: 22:55, 23/12/09

TL: Trích Thiên Tủy - 9 chương đầu được dịnh bởi vnn1269

Gửi bài gửi bởi VULONG » 06:55, 28/01/14

Chương 14 - Tinh Thần
Nguyên chú: ???
Nhâm thị viết : Tinh giả, thần sanh ta vậy; thần giả, cái khắc ta vậy. Khí giả, vốn là khí thông suốt dồi dào vậy. Nhị giả lấy tinh làm chủ, tinh đầy đủ tất khí vượng, khí vượng tất thần vượng, nhất định chuyên lấy kim thủy là tinh khí, mộc hỏa là thần khí, nguyên văn “Quan trọng tại bên trong tổn ích (tăng giảm) thích hợp”. Rõ ràng nhất định kim thủy là tinh, mộc hỏa là thần, tất đắc lưu thông sanh hóa, tăng giảm vừa phải, tất tinh khí thần đầy đủ hĩ. Nghiên cứu kỹ lưỡng, không những nhật chủ dụng thần thể tượng có tinh thần, mà ngũ hành cũng đều có tinh thần vậy. Có thừa cần nên bớt đi, không đủ cần nên bồi thêm, tuy nhiên cần phải cẩn thận, không thể quyết chắc như vậy, mà nên xem kỹ càng. Tổn giả (giảm bớt), tức khắc chế vậy. Ích giả (bồi thên), tức sanh phù. Có thừa thì tổn, tuy nhiên cũng có dư nên tiết; không đủ thì ích, quá thiếu thì nên khử đi. Chỗ này chính là tổn ích chi diệu, đại khái có thừa quá mức, nếu tổn phản lại kích động phẫn nộ, tất nên thuận theo mà tiết đi; quá suy yếu, bồi thêm cũng không có ích, tất nên thuận theo mà khử đi. Tóm lại, tinh quá dồi dào nên bồi thêm khí, khí thái vượng nên trợ thêm, tất sanh hóa lưu thông, thần sắc khí cường tráng hĩ.
Nếu như tinh quá dồi dào, phản lại tổn khí, khí thái vượng, phản lại thương khắc, tiết khí quá mức, phản lại ức chế tinh, tất thiên khô hỗn độn, tinh thần khí khô khan hĩ. Cho nên thủy lan tràn mộc trôi nổi, mộc không có tinh thần; mộc nhiều hỏa cháy rực, hỏa không có tinh thần; hỏa rất nóng, kim không có tinh thần; kim nhiều thủy nhược, thủy không có tinh thần. Nguyên bản lấy kim thủy là tinh khí, mộc hỏa là thần khí, chỗ này nguyên do nội tạng mà luận vậy. Lấy phế (phổi) thuộc kim, lấy thận thuộc thủy, kim thủy tương sanh, tàng ở bên trong, cho nên gọi là tinh khí, lấy can (gan) thuộc mộc, lấy tâm (tim) thuộc hỏa, mộc hỏa tương sanh, phát ra ở bên ngoài, cho nên gọi là thần khí, lấy tỳ (lá lách) thuộc thổ, nối liền châu thân. Nếu luận về mệnh trong ngoài tinh thần, tất không lấy kim mộc thủy hỏa là tinh thần vậy, ví như vượng nên tiết, tiết thần thích hợp thì tinh dồi dào, tòng bên trong mà phát ra bên ngoài, mà thần khí tự nhiên đầy đủ hĩ; vượng nên khắc, mà khắc thần hữu lực biến thành tinh thần đầy đủ, nguyên do biểu đạt ở bên trong, mà tinh thần trở nên đầy đủ hĩ. Như thổ sanh vào tháng tứ quý, tứ trụ thổ nhiều không có mộc, hoặc can thấu canh tân, hoặc chi tàng thân dậu, cái này gọi là bên trong phát ra bên ngoài, tinh dồi dào thần ổn định; nếu như thổ nhiều không có kim, hoặc can thấu giáp ất, hoặc chi tàng dần mão, cái này gọi là bên ngoài thông suốt vào bên trong, thần đầy đủ tinh yên ổn. Luận về thổ như vậy, ngũ hành còn lại cũng tương đồng, nên nghiên cứu tỉ mĩ tường tận.
Chỗ này đại khái yêu cầu khi luận mệnh phải cân nhắc kỹ càng giữa sinh khắc chế hóa. Nếu thái quá đều không tốt.
96- Quý dậu giáp tý bính dần mậu tuất
Quý hợi/ nhâm tuất/ tân dậu/ canh thân/ kỷ mùi/ mậu ngọ
Trụ này lấy giáp mộc làm tinh (vì nhật nguyên bính hỏa, tinh là cái sinh ra ta nên lấy mộc làm tinh), suy mộc đắc thủy sanh, mà phùng dần lộc biến thành tinh thần đầy đủ, lấy mậu thổ làm thần, tọa tuất thổ thông căn, dần tuất củng hỏa biến thành vượng. Quan sanh ấn, ấn sanh nhật chủ, nhật chủ tọa trường sanh làm khí quán lưu thông, ngũ hành sanh hóa đều đầy đủ. Tả hửu hai bên thượng hạ tình hiệp không bội phản, quan đến có thể ngăn, kiếp đến có quan, thực đến có ấn, đông tây nam bắc chi vận, đều có thể lưu thông, cho nên cả đời phú quý phúc thọ, có thể nói đắc ý hĩ.
.
97- Quý mùi ất mão bính thìn canh dần
Giáp dần/ quý sửu/ nhâm tý/ tân hợi/ canh tuất/ kỷ dậu
Trụ này tổng quát xem qua, quan ấn tương sanh, giờ ngộ thiên tài, ngũ hành không khuyết, tứ trụ thuần chất, hệt như quý cách, không biết tài quan đều hưu tù, lại xa cách không thể chiếu cố lẫn nhau, chi toàn dần mão thìn. Xuân thổ bị khắc tận, không thể sanh kim, kim lâm tuyệt địa, không thể sanh thủy, thủy khí tiết quá mức sanh mộc, mộc thế càng vượng mà hỏa rực cháy, hỏa rực cháy nên khí chết, khí chết thì thần khô. Hành vận phương bắc, lại thương khắc bính hỏa, phản lại trợ mộc; mặc dù phùng kim vận, gọi là quá dư thừa, tổn (khắc chế) ngược lại bị kích động, mới thấy chung thân lục đục, danh lợi vô thành.
Trụ này nhật nguyên bính hỏa, mộc ấn tinh quá vượng. Tài quan đều hưu tù. Nguyên tắc mộc vuợng thì hỏa khó cháy, cần phải dụng kim khắc bớt mộc. Nhưng do trong trụ kim quá nhược, nên dụng kim khắc mộc chẳng những không tốt mà còn hại vậy.
98- Mậu tuất ất sửu bính thìn kỷ sửu
Giáp tý/ quý hợi/ nhâm tuất/ tân dậu/ canh thân/ kỷ mùi
Trụ này toàn thổ, mệnh chủ nguyên thần, tiết tận cùng can tháng, ất mộc điêu tàn khô héo, gọi là tinh khí cằn cỗi. Vận phùng nhâm tuất, nhật chủ tổn thương; năm tân mùi, khẩn khắc ất mộc, bất ngờ tháng chín mắc chứng bệnh mà mất mạng. Trụ này vận dụng nghịch hành, nói chung đúng là quý mệnh.

VULONG
Tam đẳng
Tam đẳng
Bài viết: 702
Tham gia: 22:55, 23/12/09

TL: Trích Thiên Tủy - 9 chương đầu được dịnh bởi vnn1269

Gửi bài gửi bởi VULONG » 06:58, 28/01/14

Chương 15 - Nguyệt Lệnh
Nguyên chú: Lệnh tinh thuộc một trong ba căn bản xem mệnh lý, khí tượng đắc lệnh thì cát lợi, hỉ thần đắc lệnh thì cát lợi, không thể xem xét qua loa nguyệt lệnh? Lệnh tháng như nhân chi gia trạch, chi tàng chi tam nguyên, định trạch gồm định hướng.
Như sanh tháng dần:
Sau lập xuân 7 ngày mậu thổ nắm lệnh;
8 ngày sau bính hỏa đương lệnh
15 ngày cuối giáp mộc nắm lệnh.
Nắm rõ yếu lý này mới có thể thủ dụng được.
Nhâm thị viết : Lệnh tháng, phần quan trọng nhất trong mệnh vậy. Khí tượng, cách cục, dụng thần đều lệ thuộc vào đề cương tháng, thiên can vừa có thần dẫn trợ. Thiên khí động trên cao, mà nhân nguyên ứng theo, địa khí động bên dưới, mà thiên khí tòng theo. Bởi vậy luận về chi, nhân nguyên nắm lệnh, tuy cách cục dụng thần quan trọng hàng đầu, tuy nhiên thiên địa tương ứng cũng thật vi diệu. Cho nên biết địa chi đắc thiên can dẫn trợ, thiên can là dụng, cần phải nắm lệnh địa chi. Tổng quan nhân nguyên phải nắm lệnh, tất có thể dẫn cát chế hung; nắm lệnh tất phải hiện, phương cục có thể giúp trợ cách cục dụng thần.
Như mậu thổ tháng dần, canh kim tháng tị, thấu xuất mậu canh, có thể biết phát vậy;
Như người sanh tháng dần
a - Mậu thổ nắm lệnh, giáp mộc chưa nắm lệnh, mậu thổ tuy nắm lệnh nhưng thiên can không thấu xuất hỏa thổ mà thấu thủy mộc, thì môn (can) suy địa vượng; thiên can không thấu xuất thủy mộc mà thấu hỏa thổ, thì môn vượng địa suy; đều là cát hung ngang nhau.
b - Bính hỏa nắm lệnh, tứ trụ không có thủy, hàn mộc đắc hỏa mà hóa, hỏa đắc mộc mà được sanh, thì môn địa đều vượng, phúc lực phi thường vậy.
c - Mậu thổ nắm lệnh, thiên can thấu mộc, chi tàng thủy, thì môn địa đồng suy, sanh họa bất trắc.
Các tháng còn lại đồng như thế mà suy luận.
99- Giáp tuất bính dần mậu dần bính thìn
Ðinh mão/ mậu thìn/ kỷ tị/ canh ngọ/ tân mùi/ nhâm thân
Ngày mậu dần, sanh vào mười lăm ngày sau tiết lập xuân, giáp mộc đang nắm lệnh, địa chi hai dần khắc thìn tuất chi thổ, thiên can giáp mộc thấu xuất, lại chế nhật chủ mậu thổ, tựa hồ sát vượng thân nhược. Tuy nhiên mừng không có kim, nên nhật nguyên không tiết khí, lại không có thủy, tất bính hỏa là ấn tinh không bị khắc, bính hỏa thấu xuất sát hai bên nhật chủ, hóa sát sanh thân. Do giáp sanh bính, bính hóa sát sanh thân thật đẹp vậy. Phò tá hoàng đường, danh lợi song toàn vậy.

100 - Giáp tuất bính dần mậu thìn canh thân
Ðinh mão/ mậu thìn/ kỷ tị/ canh ngọ/ tân mùi/ nhâm thân
Ngày mậu thìn, sanh vào sáu ngày sau tiết lập xuân, mậu thổ đương lệnh, tháng thấu bính hỏa, sanh hóa hữu tình, nhật chủ mậu thổ tọa thìn, thông căn thân vượng, lại đắc thực thần chế sát. Theo tục luận tất sẽ đẹp mệnh trên, chẳng biết mộc còn non yếu, thổ lạnh mừng có hỏa, nên cần mộc vượng sanh hỏa, không nên chế mộc. Hiềm giờ thân chẳng những tiết khí nhật chủ, mà còn bính hỏa lâm tuyệt địa, mới biết thi hương khó thành, cả đời thất bại vất vả không yên, nửa đời khó tránh khỏi hình tang vậy.
Trụ này sanh vào sơ xuân, mộc suy, thổ lạnh. Cần nhất hỏa sưởi ấm, sanh thổ thì vạn vật mới sinh trưởng tốt đẹp. Nhưng hiềm rằng, thổ đương lệnh tại tháng dần nên giáp mộc có lộ cũng không vượng, mộc lại còn bị canh kim có gốc khắc nên cực suy, mộc suy thì không thể sanh hỏa. Thêm hỏa tuy thấu can, nhưng không được sanh mà còn phải sanh xuất lại cho thổ nên không đẹp.
Chương 16 - Sinh Thời
-Giờ Tí: Từ 11 PM đến trước 1 AM (bắt đầu từ 11 giờ đêm ngày hôm trước đến trước 1 giờ sáng hôm sau)
-Giờ Sửu: Từ 1 AM đến trước 3 AM
-Giờ Dần: Từ 3 AM đến trước 5 AM
-Giờ Mão: Từ 5 AM đến trước 7 AM
-Giờ Thìn Từ 7 AM đến trước 9 AM
-Giờ Tỵ: Từ 9 AM đến trước 11 AM
-Giờ Ngọ: Từ 11 AM đến trước 1 PM
-Giờ Mùi: Từ 1 PM đến trước 3 PM
-Giờ Thân: Từ 3 PM đến trước 5 PM
-Giờ Dậu: Từ 5 PM đến trước 7 PM
-Giờ Tuất: Từ 7 PM đến trước 9 PM
-Giờ Hợi: Từ 9 PM đến trước 11 PM
Như vậy mỗi giờ âm lịch có thời gian bằng hai giờ dương lịch và nếu sinh từ 11 giờ đêm trở đi thì ngày sinh coi như là sinh vào ngày hôm sau

VULONG
Tam đẳng
Tam đẳng
Bài viết: 702
Tham gia: 22:55, 23/12/09

TL: Trích Thiên Tủy - 9 chương đầu được dịnh bởi vnn1269

Gửi bài gửi bởi VULONG » 07:04, 28/01/14

Chương 17 - Suy Vượng
Nguyên chú: ???
Nhâm thị viết : Đắc lệnh thì luận là vượng, thất lệnh dễ cho là suy, tuy là chí lý, nhưng cũng dễ chết vì sai lầm. Ngũ khí lưu hành bốn mùa, tuy nhật can chuyên lệnh, kỳ thực chuyên lệnh trong chi. Bát tự tuy lấy lệnh tháng làm trọng, mà luận vượng tướng hưu tù, chi năm chi ngày cũng có thể sinh khắc nhật chủ vậy, cho nên tuy sanh tháng không nắm lệnh, cũng có thể nắm lệnh năm, lệnh ngày, lệnh giờ mà sanh vượng được vậy. Như mùa xuân mộc tuy vượng, mà kim quá dày thì mộc cũng lâm nguy; trên can thấu xuất canh tân, dưới gặp chi thân dậu, không có hỏa chế mà bất phú, gặp thổ sanh mà yểu mệnh, không thể luận đắc vượng vậy. Thu mộc tuy nhược, mộc thâm căn cố đế cũng có thề xem là cường vượng, can thấu giáp ất mà chi tàng dần mão, ngộ quan thấu xuất có thể đảm nhận, gặp thủy sanh mà quá mức, không thể xem là nhược vậy.
Cho nên nhật chủ không luận hưu tù nguyệt lệnh, chỉ cần tứ trụ hữu căn, liền có thể đảm nhận tài quan thực thương thất sát. Trường sinh lộc vượng, cần phải căn cứ vào chi trọng hay thiểu; mộ khố dư khí, cũng không thể xem khinh. Can được thiên can tỉ kiếp thấu xuất tương trợ, không bằng đắc mộ khố dư khí tại địa chi. Mộ giả, như giáp ất phùng mùi thổ, bính đinh phùng tuất, canh tân phùng sửu, nhâm quý phùng thìn. Dư khí giả, như bính đinh phùng mùi, giáp ất phùng thìn, canh tân phùng tuất, nhâm quý phùng sửu; đắc hai can tương trợ, không bằng một chi trường sanh lộc vượng; như giáp ất phùng chi hợi dần mão. Can như bằng hữu, chi lại sanh phù, nhiều can không bằng thông căn nơi địa chi. Người xưa không biết được lý này vậy, nhìn thấy xuân thổ hạ thủy thu mộc đông hỏa, không xét hữu căn vô căn, liền cho là thân nhược; nhìn thấy xuân mộc hạ hỏa thu kim đông thủy, không nghiên cứu trọng khinh, liền cho là vượng, dù cho nhâm quý phùng thìn, bính đinh phùng tuất, giáp ất phùng mùi, canh tân phùng sửu, tưởng rằng không thông căn khố địa, thậm chí còn cầu hình xung khai khố, mà không biết hình xung tất thương tổn căn khí. Nên cần phải loại trừ cách luận sai lầm này vậy.
Chỗ này luận ngũ hành rõ ràng thật điên đảo, học giả cần nên nghiên cứu thật rõ ràng tường tận mới thấu hiểu được.
101 - Giáp thìn đinh mão giáp tý mậu thìn
Mậu thìn/ kỷ tị/ canh ngọ/ tân mùi/ nhâm thân/ quý dậu
Giáp mộc sinh tháng mão, địa chi hai thìn, mộc còn dư khí, thêm mão thìn hội mộc cục, tý thìn bán hợp thủy cục nên mộc thái vượng giả mà tựa như kim, lấy đinh hỏa làm dụng vi diệu. Đến vận kỷ tị, đinh hỏa lâm vượng, công danh cao quý; hai vận canh tân, vận nam phương, tuy có hình háo mà không có hoạ lớn; Vận mùi khắc khứ tý thủy, vận xấu, ngọ vận tý thủy bị xung khắc, thi hương không thành; nhâm thân vận kim thủy cùng đến, hình thê khắc tử, phá háo vô cùng; quý vận mất lộc.
102- Quý mão ất mão giáp dần ất hợi
Giáp dần/ quý sửu/ nhâm tý/ tân hợi/ canh tuất/ kỷ dậu
Mệnh này tứ chi toàn là mộc với lại được thủy sinh, sáu mộc hai thủy, mộc vượng cực giả mà tựa như hỏa, xuất thân tổ nghiệp vững mạnh. Duy vận quý sửu bị hình thương, vận nhâm tý thủy thế cực vượng, tân hợi vận kim không thông căn, chi phùng hợi thủy, hai mươi năm kinh doanh phát tài, hoạnh lợi mấy vạn; giao vận canh tuất, thổ kim đều vượng, phá tài mà chết.
Trụ này thủy mộc nhị khí. Nên dụng thần là thủy mộc.
103- Ất sửu giáp thân giáp thân tân mùi
Quý mùi/ nhâm ngọ/ tân tị/ canh thìn/ kỷ mão/ mậu dần
Mệnh này địa chi thổ kim, mộc không có căn gốc, can tân kim thấu xuất, mộc thái suy giả mà tựa như nước (nên dụng kim), sơ vận quý mùi nhâm ngọ sanh mộc khắc chế kim, hình tang hao tán, công danh gian nan; tân tị - canh thìn vận, kim được sinh vượng, tay trắng làm nên phát tài mấy vạn; kỷ mão vận thổ vô căn, mộc đắc địa, phá tài mấy vạn; đến vận mậu dần thì mất.
Trụ này nhật chủ quá nhược, sát vượng nên tòng sát. Gặp vận thổ, kim tức vận tài, quan là cát vận.
104- Kỷ tị kỷ tị ất dậu bính tuất
Mậu thìn/ đinh mão/ bính dần/ ất sửu/ giáp tý/ quý hợi
Mệnh này địa chi toàn khắc tiết nhật chủ, thêm nữa thiên can thấu hỏa thổ, hoàn toàn không có thủy. Mộc suy cực giả, mà tựa như thổ. Sơ vận mậu thìn, đinh mão hoạnh phát, bính vận kinh doanh đại phát, thu lợi được vạn kim; dần vận khắc thê phá tài; ất sửu vận chi toàn kim cục, hỏa thổ đều bị tiết, gia nghiệp phá tán; vận giáp tý thủy vượng, nên mất lộc (không thấy luận giáp hợp kỷ!).
Trụ này địa chi hai tị, một tuất nên hỏa vượng. Trên can lại thấu 2 kỷ 1 bính, thổ trên can được chi hỏa sanh (thiên can dẫn xuất địa chi) nên cực vượng, tác dụng mạnh (tức tài cực vượng). Trong khi đó mộc cực suy, nên buộc phải tòng thổ thành cách tòng tài. Tòng tài thì gặp vận tài, hoặc thực thương (tức vận hỏa, thổ) là vận tốt. Còn gặp vận kiếp, ấn (tức thủy, mộc) thì tán gia bại sản.
105- Ất sửu nhâm ngọ bính tuất giáp ngọ
Tân tị/ canh thìn/ kỷ mão/ mậu dần/ đinh sửu/ bính tý
Mệnh này ngày bính tuất, trụ tháng giờ có hai kình dương, nhâm thủy vô căn, với lại phải tiết sinh ất mộc. Hỏa thái vượng giả, tựa như nước vậy (tức dụng thổ). Sơ vận canh thìn, tân tị, kim phùng sinh địa, không được ai tương trợ, không nơi nương tựa; kỷ mão vận đắc tế ngộ, mậu dần toàn hội hỏa cục, thêm đinh sửu vận hai mươi năm phát tài bốn năm vạn, đến vận tý thì mất.
Trụ này thuộc cách tòng vượng. Do ất mộc ấn thụ trong mệnh cục khinh, nên gặp vận tỉ kiếp, kiêu ấn hay thực thương đều tốt tức dụng hỉ thần ấn kiếp thương. Nếu ấn thụ trong mệnh cục trọng tứ thành cách tòng cường, thì nhất định chỉ được gặp vận ấn kiếp, không nên gặp vận thực thương, vì khi đó kiêu ấn sẽ khắc thực thương.
106- Mậu dần đinh tị bính dần giáp ngọ
Mậu ngọ/ kỷ mùi/ canh thân/ tân dậu/ quý hợi/ nhâm tuất
Bính hỏa sanh mạnh hạ, địa chi lưỡng dần bính hỏa trường sinh, lại phùng lộc vượng. Hỏa cực vượng giả tựa như thổ. Sơ vận tuy không phùng mộc, mừng nam phương hỏa địa, thừa hưởng gia nghiệp hưng thịnh, đọc sách xem qua một lần là nhớ (ý thông minh, học giỏi); giao canh vận thi thư, thất bại; thân vận nhà tan mất mạng. Mệnh này nếu gặp mộc vận, danh lợi song toàn vậy.
Trụ này ấn kiếp đều vượng, thành cách tòng cường. Nên dụng thần là ấn kiếp. Tuyệt đối không nên gặp vận thực tài quan, thất bại như vôi.
107- Tân tị đinh dậu đinh dậu tân sửu
Bính thân/ ất mùi/ giáp ngọ/ quý tị/ nhâm thìn/ tân mão
Đinh hỏa sanh vào tháng tám, thu kim nắm lệnh, với tại toàn kim cục. Hỏa suy tựa như mộc. Sơ vận ất mùi, giáp ngọ, hỏa mộc đều được, gia đình cốt nhục anh em gặp họa, chia lìa. Nhất giao vận quý tị, thiên can quý thủy thấu xuất, địa chi trợ kim, xuất ngoại kinh doanh, phát lớn; vận nhâm thìn, phát tài hơn mười vạn.
Trụ này nhật chủ vô căn, tài nắm lệnh cường vượng lại thấu lộ trên can (điều kiện quan trọng để thành cách tòng tài), thành cách tòng tài. Dụng thần thực thương, tài quá tốt, quan sát vận trung bình vì có quan khắc kiếp bảo vệ tài.
108- Tân hợi nhâm thìn bính thân kỷ hợi
Tân mão/ canh dần/ kỷ sửu/ mậu tý/ đinh hợi/ bính tuất
Mệnh này tài sinh sát, sát công thân, bính hỏa tọa thân kim, thân thìn bán hợp hóa thủy. Hỏa suy cực giả tựa như kim. Sơ vận tân mão canh dần, phương đông mộc địa, tổ nghiệp điêu tàn; đến vận kỷ sửu, xuất ngoại kinh doanh, đại phát; đến vận mậu tý là hai mươi năm, danh lợi đều cao sang, hàng vương tôn công tử. Đắc vận tất đắc phúc vậy.
Trụ này chi có thủy vượng, trên lại lộ sát, nhật chủ cô yếu vô căn. Thành cách tòng sát. Dụng thần tài, quan. Vận kỷ sửu tốt, do trong mệnh cục trên can đã có tân, nên kỷ sinh tân, tân sinh nhâm, sát vượng tốt; dưới chi đã có thân, sửu sinh thân, thân sinh hợi, hợp thìn thủy vượng, gọi là bệnh có thuốc chữa nên cát lành. Tương tự cho vận mậu tý.

VULONG
Tam đẳng
Tam đẳng
Bài viết: 702
Tham gia: 22:55, 23/12/09

TL: Trích Thiên Tủy - 9 chương đầu được dịnh bởi vnn1269

Gửi bài gửi bởi VULONG » 07:07, 28/01/14

109- Mậu thìn mậu ngọ mậu thân kỷ mùi
Kỷ mùi/ canh thân/ tân dậu/ nhâm tuất/ quý hợi/ giáp tý
Mệnh này thổ trọng, sanh vào tháng hạ, thổ thái vượng giả mà tựa như mộc, dụng thần tại kim. Canh thân vận, thi hương bảng; năm tân sửu – vận tân dậu, nhập cung, hưởng lộc vua ban, danh lộ thênh thang thằng tiến; nhâm tuất vận, hình tang hao tán, mất năm bính ngọ.
Trụ này thành cách tòng vượng. Dụng thần hỏa, thổ, kim.
110 - Mậu tuất bính thìn kỷ tị kỷ tị
Ðinh tị/ mậu ngọ/ kỷ mùi/ canh thân/ tân dậu/ nhâm tuất
Mệnh này tứ trụ hỏa thổ, không có khắc tiết. Thổ vượng cực giả mà tựa như kim. Sơ vận nam phương, thừa hưởng tổ nghiệp hưng hịnh giàu có, ngọ vận, kỷ mùi vận được đề bạt mà không được làm quan; giao vận canh thân, gia nghiệp suy vi; tân dậu vận, tiền tài hư hao, sự nghiệp tiêu điều; nhâm vận khắc bính mà không lộc.
Trụ này thành cách tòng cuờng, do kiếp vượng mà kiêu ấn cũng quá vượng. Dụng thần kiếp ấn.
111 - Nhâm thìn tân hợi mậu tý quý sửu
Nhâm tý/ quý sửu/ giáp dần/ ất mão/ bính thìn/ đinh tị
Mệnh này chi thuộc phương bắc, thủy thế cuồng cuộng, với lại thiên can thấu xuất kim thủy. Thổ thái suy giả mà tựa như lửa. Đến vận giáp dần, ất mão, can chi toàn mộc, danh lợi song toàn; nhất giao bính vận, hình thê khắc tử, phá tán điêu tàn; đến tị vận, năm hỏa thổ, ám thương thể dụng, bị mắc bệnh phong mà chết.
112- Quý dậu giáp tý mậu tý mậu ngọ
Quý hợi/ nhâm tuất/ tân dậu/ canh thân/ kỷ mùi/ mậu ngọ
Mệnh này tứ trụ toàn thủy, lại đắc kim sanh. Thổ suy cực giả mà tựa như nước. Sơ vận quý hợi, bình hòa; nhâm tuất vận, thủy vô căn, thổ đắc địa, hình tang phá háo, gia nghiệp suy vi; vận tân dậu canh thân được hai mươi năm, đại đắc tế ngộ, tay trắng làm nên sự nghiệp, phát tài hơn mười vạn; kỷ mùi vận phá tán mấy vạn, đến vận mùi thì mất mạng.
Trụ này thành cách tòng tài. Thủy vượng, lại có thủy lộ trên can. Dụng thần thực thương, tài vận (thực thương vận thì tốt hơn).
113- Nhâm thân kỷ dậu canh tý canh thìn
Canh tuất/ tân hợi/ nhâm tý/ quý sửu/ giáp dần/ ất mão
Mệnh này thu kim nắm lệnh, không có mộc hỏa. Kim thái vượng giả mà tựa như hỏa. Hợi vận nhâm thủy tọa lộc, vận nhâm tý dụng thần lâm vượng, đều cát lợi danh lợi song huy; quý sửu vận hợp khử đi nhâm thủy vượng địa, không cát; giáp dần, ất mão vận, có công khắc thổ vệ thủy, nhàn nhã đến cuối cuộc đời.
114- Canh thân ất dậu canh tuất canh thìn
Bính tuất/ đinh hợi/ mậu tý/ kỷ sửu/ canh dần/ tân mão
Mệnh này chi toàn tây phương kim cục, lại thêm thìn thổ, kim vượng cực tựa như nước. Sơ vận hỏa, tổ nghiệp điêu tàn; đến vận mậu tý hoạch lợi, danh lợi song toàn; toại nguyện từ sửu vận đến canh vận; nhất giao dần vận, phạm tội bãi chức, tài lợi hao phá nhiều; đến mão vận thất lộc.
Trụ này thàng cách tòng cường (do ấn vượng, kiếp vượng). Dụng thần kiếp ấn (thổ kim).
115- Kỷ mão canh ngọ tân mão giáp ngọ (trụ giờ là Tân Mão mới đúng?)
Kỷ tị/ mậu thìn/ đinh mão/ bính dần/ ất sửu/ giáp tý
Tân kim sanh vào hạ, địa chi phùng tài sát. Kim thái suy giả tựa như thổ. Sơ vận kỷ tị mậu thìn, tiết hỏa sanh kim, danh lợi khó thành; nhất giao đinh mão vận, mộc hỏa thịnh vượng, như đất khô gặp mưa, bất ngờ đại phát, gia nghiệp hưng thịnh, đến sửu vận sanh kim tiết hỏa, thất lộc.
Trụ này nhật chủ quá nhược, chi tàng mộc hỏa vượng. Tuy nhiên, trên can chỉ lộ giáp mộc (tài tinh) nên thành cách tòng tài.
116- Kỷ hợi đinh mão canh dần bính tý
Bính dần/ ất sửu/ giáp tý/ quý hợi/ nhâm tuất/ tân dậu
Mệnh này mộc vượng thừa quyền, lại được thủy sanh, tứ diện phùng tài sát. Kim suy cực giả mà tựa như mộc. Cho nên trung vận ất sửu, thổ kim ám vượng, gia nghiệp điêu tàn; đến giáp vận, phương bắc thủy vượng, nguồn tài thông suốt đầy đủ; quý hợi vận thăng chức, danh lợi song toàn; nhâm tuất vận, thủy lâm tuyệt địa, bãi chức quy điền.
Trụ này nhật chủ quá nhược, trong mệnh cục thực tài quan đếu vượng. Thành cách tòng thế. Dụng thần mộc, gặp mộc vận (tài vận) thì tốt, gặp thủy vận (thực thương vận) trung bình, hỏa vận cũng kém; gặp thổ kim vận là đại họa.
117 Nhâm dần tân hợi nhâm tý tân sửu
Nhâm tý/ quý sửu/ giáp dần/ ất mão/ bính thìn/ đinh tị
Mệnh này nhâm thủy sanh vào tháng mạnh đông, chi toàn phương bắc, can thấu toàn kim thủy. Thủy thái vượng giả mà tựa như thổ, mừng địa chi tàng dần mộc. Đến vận giáp dần, tài cao học rộng, thanh vân đắc lộ, danh lợi song huy; ất mão vận quan lộ thuận toại; giao bính vận mà chết.
Trụ này thành cách tòng vượng, do trong mệnh cục kiếp vượng, ấn suy lại có thực thương. Gặp mộc vận (thực thương vận) là tốt nhất, kế đến là kiếp vận. Ấn vận trung bình
118- Quý hợi quý hợi nhâm tý canh tý
Nhâm tuất/ tân dậu/ canh thân/ kỷ mùi/ mậu ngọ/ đinh tị
Mệnh này tứ trụ toàn thủy, không có khắc tiết. Sơ vận nhâm tuất, chi tuất thổ vượng, hình tang phá tán; tân dậu, canh thân vận, can chi toàn kim, phúc lộc tràn đầy; giao kỷ mùi vận, vợ con gặp nạn, gia nghiệp tiêu tan; ngọ vận, bần cùng quá sức, đau buồn mà chết.
Trụ này thành cách tòng cường. Kiếp ấn vận thì tốt.
119- Bính thìn ất mùi nhâm ngọ quý mão
Bính thân/ đinh dậu/ mậu tuất/ kỷ hợi/ canh tý/ tân sửu
Mệnh này hỏa thồ đương quyền, lại phùng mộc trợ, ngũ hành vô kim. Thủy thái suy giả mà tựa như kim. Sơ vận bính thân, đinh dậu, thiên can thuộc hỏa khắc kim, nên thân dậu không thể sanh thủy, tài lộc thừa vượng; trung vận mậu tuất, gia nghiệp hưng thịnh; kỷ hợi vận, thổ vô căn, mừng chi hội mộc cục, tuy có phá tán mà không có họa lớn; giao vận canh tý, tan nhà nát cửa.
Trụ này nhật chủ quá nhược, mộc hỏa vượng, trên can lại thấu mộc hỏa. Thành cách tòng tài. Vận thực thương tài thì tốt, quan sát vận trung bình.
120 - Quý mão mậu ngọ nhâm dần bính ngọ
Ðinh tị/ bính thìn/ ất mão/ giáp dần/ quý sửu/ nhâm tý
Mệnh này bính hỏa đương quyền, mậu quý hợp hóa hỏa, can nhâm thủy suy cực. Thủy suy cực giả mà tựa như hỏa. Sơ vận phùng hỏa, tòng vượng hỏa, cơm áo đầy đủ; vận ất mão giáp dần, danh lợi song toàn; quý sửu vận, tranh quan đoạt tài, phá tán mà chết.
Trụ này thành cách tòng tài do chi có hỏa vượng, trên can cũng thấu hỏa.
Trên đây hơn hai mươi trường hợp, ngũ hành cực vượng cực suy, không đắc trung hòa. “Trong vượng có suy, trong suy có vượng” tức thái vượng, thái suy giả. “vượng cực không thể tổn, suy cực không thể sinh” tức vượng cực, suy cực vậy. Đặc biệt tuyển lựa để minh chứng cho hậu nhân.

VULONG
Tam đẳng
Tam đẳng
Bài viết: 702
Tham gia: 22:55, 23/12/09

TL: Trích Thiên Tủy - 9 chương đầu được dịnh bởi vnn1269

Gửi bài gửi bởi VULONG » 07:10, 28/01/14

Chương 18 - Trung Hòa
Nguyên chú: ???
Nhâm thị viết: Trung hòa, cốt tủy trong mệnh lý vậy. Tức đắc trung hòa chánh khí, danh lợi làm sao mà không toại được? Một đời an nhàn, không uất ức mà sung sướng toại nguyện, ít hiểm trở mà nhiều cát, làm người hiếu lễ mà không kiêu căng siểm nịnh, tâm chính trực mà không cẩu thả, đều do đắc trung hòa chánh khí vậy. Thậm chí nếu thân nhược mà vượng địa đắc phú quý, thân vượng mà nhược địa cũng đắc phú quý, tất tứ trụ có chỗ khuyết hãm, hoặc tài khinh kiếp trọng, hoặc quan suy thương quan vượng, hoặc sát cường chế nhược, hoặc chế cường sát nhược, đây là loại tuy không đắc trung hòa, nhưng không mất cái khí trong sáng, làm người ân oán rõ ràng, chỉ có điều trong trụ có khuyết hãm, hoặc vận trình lại gặp biệt ly, làm người mà thê tử tài lộc, tất cả không đủ, như tài khinh kiếp trọng không có vợ, chế cường sát nhược không có con, quan suy thương quan vượng thiếu danh vị, sát cường chế nhược tiền bạc thiếu thốn, một thân chí cao ngạo, tuy nghèo nhưng không siểm nịnh, sau đến tuế vận, bổ túc không đủ, nhưng có thừa, chính là đắc trung hòa, tất nhiên khởi phát về sau; gặp phú quý mà sanh nịnh bợ, ngộ nghèo khó mặt lộ ra kiêu căng, tất tứ trụ khí lệch cổ quái ngũ hành không đắc chánh cho nên nỗi lòng tham gian. Nếu gọi là “có bệnh có thuốc chữa, cát hung dễ dàng nghiệm đúng, không bệnh không thuốc, hoạ phúc khó đoán” chỗ này luận dựa theo quả là thiên lệch. Nói chung có bệnh rõ ràng mà dễ dàng chọn, không có bệnh mà khó đoán. Như vậy tổng quát lấy trung hòa làm chủ, giống như người không có bệnh, do tứ chi khoẻ mạnh, mưu cầu giữ gìn điều hòa, đi đứng thoải mái, rất thoải mái : giả sử có bệnh, tất buồn nhiều vui ít, hành động gian nan, như gặp thuốc hay tất có thể khởi chẳng phải trở thành chung thân hoạn nạn ư?
121 - Tân tị giáp ngọ quý mão quý hợi
Quý tị/ nhâm thìn/ tân mão/ canh dần/ kỷ sửu/ mậu tý
Nhật nguyên quý mão, sanh giờ hợi, nhật chủ khí thông suốt, mừng không có thổ, tài vượng tự sanh quan. Tuyệt diệu tị hợi tương xung, khử đi hỏa giữ lại kim, ấn tinh đắc dụng, mộc hỏa bị chế, thể dụng không thương, trung hòa thuần thanh. Làm người trí thức thâm trầm, tài hoa trác tuyệt. Canh vận trợ tân chế giáp thật đẹp, hiềm hợi mão củng mộc, mộc vượng kim suy, khó tránh gặp gian nan. Mệnh này là Mạc Bảo Trai tiên sinh.
122- Kỷ dậu bính tý quý mùi mậu ngọ
Ất hợi/ giáp tuất/ quý dậu/ nhâm thân/ tân mùi/ canh ngọ
Quý sanh tháng tý, tựa hồ vượng tướng, chẳng biết tài sát quá trọng, vượng biến thành nhược, trong cục không có mộc, hỗn trọc không thanh, âm nội dương ngoại. Tháng thấu lộ tài tinh, cho thấy nhất định tham ái, giờ phùng quan sát, cho thấy nhất định ham dục. Cho nên quyền mưu đặc biệt hơn người, tài cán hơn người, xuất thân thấp kém, tâm thuật không đứng đắc. Vận quý dậu gặp được đắc ý, từ phụ tá lên làm quan, xa hoa xu nịnh, không giúp ngưòi nào. Đến mùi vận, không thể tránh họa. Gọi là dục vọng không trừ, tựa như thiêu thân.
Chương 19 - Nguyên Lưu
Nguyên chú: Không cần luận đương lệnh hay thất lệnh, chỉ lấy nhiều nhất vượng nhất, mà có thể xem là mãn cục tổ tông, là nguyên lưu. Xem nguyên lưu chảy từ phương nào, chảy đến chỗ nào, là hỉ thần thì thỏa đáng, như tân dậu - quý tị - mậu thân - đinh tị, tị hỏa là nguyên lưu, lưu chuyển đến phương kim thủy, cho nên rất phú quý, nếu ngược lại lưu chuyển đến mộc địa, ắt khí tiết là loạn. Nếu như chưa lưu chuyển đến cát phương, giữa đường gặp cản trở, thì xem cản trở là thần nào mà đoán tốt xấu.
Nhâm thị viết: Nguyên lưu, tức vượng thần trong tứ trụ vậy, bất luận tài, quan ấn thụ, thực thương, tỉ kiếp, đều có thể là nguyên lưu vậy. Tổng quát cần lưu thông sanh hóa, đắc cục đắc mỹ thì cát. Hoặc khởi tại tỉ kiếp, kết thúc tại tài quan là hỉ; hoặc khởi tại tài quan, kết thúc tại tỉ kiếp là kỵ. Giống như sơn xuyên phát mạch lai long, nhận khí ở tại đại phụ mẫu, xem tôn tinh. Nhận khí ở tại chân tử tức, xem chủ tinh. Nhận khí ở tại phương giao cấu, xem thai phục tinh. Nhận khí ở tại thành thai dục, xem thai tức tinh. Nhận khí ở tại hóa sát thành quyền, xem giải tinh. Nhận khí ở tại tuyệt xứ phùng sanh, xem ân tinh. Nhận nguyên khí làm thế, nhận lưu khí làm tình. Cho nên nguyên lưu lưu chuyển, tức sơn xuyên kết huyệt vậy, không thể không nghiên cứu.
Nguyên lưu bị ngăn trở tiết khí, tức lai long bị phá tổn cách tuyệt. Không thể không xem xét. Xem nguyên lưu lưu chuyển ngừng tại ở đâu, mà biết ai phát động ai.
a - Như nguyên lưu khởi phát tại năm tháng là thực ấn, trong trụ ngày giờ là tài quan, tất trên được nhờ tổ phụ che chở, dưới con cháu được hưởng phúc đức.
b - Nếu khởi phát tại năm tháng là quan, trong trụ ngày giờ là thương kiếp, tất tổ phụ rách nát, hình thê khắc tử.
c - Nếu như khởi tại ngày giờ là tài quan, trong trụ năm tháng là thực ấn, tất trên tổ phụ vẻ vang, dưới con cháu tạo dựng sự nghiệp.
d - Nếu khởi tại ngày giờ là tài quan, trong trụ năm tháng là thương kiếp, tất tổ phụ khó hưởng thụ, tự mình khởi nghiệp.
e - Nếu trụ năm là quan ấn, cho biết tổ thượng thanh cao.
f - Nếu trụ năm là thương kiếp, cho biết tổ tiên nghèo hèn.
g - Lưu chuyển đến trụ tháng là tài quan, cho biết cha mẹ gây dựng cơ đồ.
h - Nếu trụ tháng thương quan, cho biết cha mẹ rách nát.
k - Lưu chuyển đến trụ ngày là tài quan thực ấn, tất bạch thủ thành gia, hoặc thê hiền tử quý.
i - Lưu chuyển đến trụ ngày giờ là thương kiếp kiêu nhận, tất thê lậu tử liệt, hoặc vợ gây họa, phá gia mang nhục.
Nhưng mà lại cần phải xem nhật chủ hỉ kỵ quyết định, không lúc nào không nghiệm.
a - Nếu trong trụ có tài tinh tương chế, tất được hiền thê trợ giúp.
Nếu có tài tinh hóa thực thương, tất được vợ đẹp, hoặc vợ nhiều tài.
Nếu như tài tinh là thần ngăn trở, ắt gặp thê thiếp là họa.
b - Nếu trong trụ có quan tinh tương chế, tất được quý nhân giúp đỡ.
Nếu như có quan tinh hóa tài tinh, tất được quý nhân dìu dắt.
Nếu như thần ngăn trở là quan sát, ắt gặp họa quan hình.
c - Nếu trong trụ có ấn thụ hóa quan, tất dựa vào trưởng bối trợ giúp.
Nếu trong trụ có ấn thụ tương chế, tất trưởng bối là phúc, hoặc họ hàng xa đề bạt
Nếu như nguyên lưu lưu chuyển bị ngăn trở, thần ngăn trở là thiên ấn, ắt trưởng bối là họa
d - Nếu trong trụ có tỉ kiếp tương chế, tất được huynh đệ trợ giúp, hoặc huynh đệ yêu mến kính trọng.
Nếu như có tỉ kiếp hóa ấn, tất được huynh đệ tương phù.
Nếu như thần ngăn trở là tỉ kiếp, ắt gặp huynh đệ thì phiền muộn, hoặc bất hòa.
e - Nếu trong trụ có thực thương tương chế, tất thế hệ con cháu có thế lực.
Nếu như có thực thương hóa tỉ kiếp, tất được con cháu trợ giúp.
Nếu như thần ngăn trở là thực thương, tất con cháu là phiền muộn.
Song lại cần xem dụng thần mà luận nghi kỵ, không lúc nào không ứng vậy.
a - Nếu nguyên lưu là tài tinh, lại là dụng thần của nhật chủ, thì thuận lợi phát tài.
Nếu nhật chủ lấy tài tinh là kỵ thần, vì tài mà thân bại danh liệt.
b - Như nguyên lưu là quan tinh, lại là dụng thần của nhật chủ, thì danh tiếng quý hiển vậy.
Nếu nhật chủ lấy quan tinh là kỵ thần, thì làm quan gặp tai họa khuynh gia.
c - Nếu nguyên lưu là ấn tinh, lại là dụng thần của nhật chủ, thì có nổi tiếng chữ nghĩa mà thanh cao.
Nếu nhật chủ lấy ấn tinh là kỵ thần, văn Chương kém cỏi mà còn làm hại con cháu bị tai ương.
d - Nếu nguyên lưu là thực thương, lại là dụng thần của nhật chủ, thì tiền bạc con cái đều đẹp.
Nếu nhật chủ lấy thực thương là kỵ thần, thì con cháu bị liên lụy mà tuyệt tự.
123- Tân dậu canh tý bính dần quý tị
Kỷ hợi/ mậu tuất/ đinh dậu/ bính thân/ ất mùi/ giáp ngọ
Trụ này lấy kim là nguyên lưu, lưu chuyển đến dần mộc, ấn thụ sanh nhật chủ tuyệt diệu. Giờ tị đắc lộc, tài lại phùng sanh, quan tinh thấu lộ, rõ ràng phát sinh tinh thần, đắc trung hòa. Khởi đầu cũng đẹp, quy cục quá đẹp, xuất thân từ lâm, làm quan đến chức thông chánh, cả đời không nguy hiểm, danh lợi song huy.
124- Tân sửu quý tị mậu thân bính thìn
Nhâm thìn/ tân mão/ canh dần/ kỷ sửu/ mậu tý/ đinh hợi
Trụ này lấy hỏa là nguyên lưu, lưu chuyển đến thủy phương, tuyệt diệu tháng giờ 2 hỏa, đều được lưu thông, đến kim thủy thành cục, cho nên giàu hơn trăm vạn, làm đến nhất phẩm, cả đời không sợ nguy hiểm.
125- Tân mão tân mão bính tý giáp ngọ
Canh dần/ kỷ sửu/ mậu tý/ đinh hợi/ bính tuất/ ất dậu
Trụ này lấy mộc là nguyên lưu, ngũ hành không có thổ, không thể lưu chuyển đến kim, tài quan lại viễn cách, xung mà phùng tiết, sanh hóa vô tình. Sơ vận canh dần, được tổ tiên nuôi dưỡng hạnh phúc. Kỷ sửu vận hợp tý, tiết hỏa sanh kim của cải dư thừa. Mậu tý thổ hư thủy vượng, ám trợ mộc, hình tang hao tán. Đinh hợi vận khắc kim hội mộc, cửa nát nhà tan.
126- Canh dần nhâm ngọ mậu ngọ đinh tị
Quý mùi/ giáp thân/ ất dậu/ bính tuất/ đinh hợi/ mậu tý
Trụ này lấy hỏa là nguyên lưu, chi năm dần mộc tiết hỏa, can tháng nhâm thủy ngăn cách, không thể lưu chuyển đến kim. Sơ vận thổ kim chi địa, xung hóa thần ngăn trở, sản nghiệp dồi dào. Giao bính tuất vận, chi hội hỏa cục, kiêu thần đoạt thực, hao phá dị thường, lại khắc mất một thê hai thiếp bốn con. Đến đinh hợi vận, can chi đều hợp hóa mộc, cô khổ không chịu nổi, phát tóc đi tu.
Phàm phú quý, không thể không tòng nguyên lưu vậy. Phân biệt quý tiện, đều tại nơi kết thúc một chữ định. Khử đi trọc khí, trợ giúp hỉ thần, không quý cũng phú. Khử đi thanh khí, trợ giúp kỵ thần, không bần cũng tiện. Học giả cần xem xét cẩn thận.

VULONG
Tam đẳng
Tam đẳng
Bài viết: 702
Tham gia: 22:55, 23/12/09

TL: Trích Thiên Tủy - 9 chương đầu được dịnh bởi vnn1269

Gửi bài gửi bởi VULONG » 07:17, 28/01/14

Chương 20 - Thông Quan
Nguyên chú : Mộc thổ cần có hỏa; hỏa kim cần có thổ; thổ thủy cần có kim; kim mộc cần có thủy, đều là sanh hóa hữu tình vậy. Thượng hạ xa cách, cần phải có trung gian; trước sau không tương giao, hoặc bị hình xung, hoặc bị cướp đoạt, hoặc cách vật (không liên tục), đều là cửa ải khó vượt vậy. Có thần trung gian hợp mất hình xung, trước sau có vật dẫn thông, có thể chế khắc thần, có thể bổ chỗ khuyết, cần ám hợp lại gặp vận ám hợp, đều là thông quan vậy.
Nhâm thị viết : Thông quan, dẫn thông khắc thần. Âm dương nhị dụng, đẹp tại khí giao, khí trời dẫn xuống, khí đất thăng lên. Thiên can khí động mà chuyên nhất, địa chi khí tĩnh mà tạp. Thiên địa giao hòa, can chi hữu tình, tả hữu hai bên không bội phản. Âm dương sanh trợ mà tương thông, nếu sát trọng mừng có ấn, sát lộ ấn cũng lộ, sát tàng ấn cũng tàng, hiển nhiên thông đạt, không cần phải dựa vào tuế vận. Nhưng tứ trụ không có ấn, phải cần tuế vận mới thông đạt, hoặc ám hội ám hợp mà thông; tứ trụ có ấn, bị tài tinh khắc ấn, hoặc quan tinh hóa tài sanh ấn, hoặc tỉ kiếp khắc tài hộ ấn; hoặc ấn bị hợp cần xung khai; hoặc ấn bị xung cần hợp hóa; hoặc cách một thần, cần phải khắc khứ đi; trước sau trên dưới, không thể thông quan, đắc tuế vận quá tốt. Như năm ấn giờ sát, can sát chi ấn, trước sau cách xa, trên dưới cách xa, hoặc có kỵ thần tại trụ tháng trụ ngày, đây là dạng trứ trụ không thể thông quan, phải nhờ tuế vận ám xung ám hợp, khắc chế kỵ thần, nên xung được xung, nên hợp được hợp, dẫn thông giải khắc chế nhật chủ, như Tử Kỳ gặp đàn, Bá Nhạc gặp ngựa, cầu danh lợi quá dễ, toại nguyện. Luận về sát ấn như thế, thực thương tài quan cũng theo đó mà suy.
127- Quý dậu giáp tý đinh mão bính ngọ
Quý hợi/ nhâm tuất/ tân dậu/ canh thân/ ất mùi/ mậu ngọ
Trụ này can chi đều sát sanh ấn, ấn sanh thân, giờ ngọ quy lộc nên nhật chủ vượng; thật vi diệu tứ xung phản ngược thành tứ trợ, kim sanh thủy mà không khắc mộc, thủy gặp mộc không khắc hỏa mà trở lại sanh mộc, trụ này tự nhiên trung hòa sanh hóa vi diệu. Nhật chủ từ nhược biến thành vượng, gặp vận thủy vẫn có thể sanh mộc; gặp vận kim vẫn có thể sanh thủy, ấn thụ không bị thương khắc, cho nên sớm thi đậu hương bảng, làm quan.
128- Mậu dần quý hợi đinh mùi tân hợi
Giáp tý/ ất sửu/ bính dần/ đinh mão/ mậu thìn/ kỷ tị
Trụ này quý thủy lâm vượng, sát bên nhật chủ nên khắc rất nặng, bị mậu thổ hợp mất, ngược lại trợ thân. Tháng hợi thủy trợ sát, đắc chi năm dần hợi hợp lại sanh nhật chủ, dần mộc vốn ở xa nhật chủ, do hợp hợi thủy hóa mộc mà trở nên thân cận. Chi giờ hợi thủy, lại hợp mùi thổ, do hỗn tạp mà tốt, một hợp một khứ, cùng nhau hợp sức mà cân bằng, một đi một đến, thông quan không trở ngại. Cho nên khoa giáp liên đăng, làm quan triều đình.
129- Mậu thìn ất mão tân sửu đinh dậu
Bính thìn/ đinh tị/ mậu ngọ/ kỷ mùi/ canh thân/ tân dậu
Trụ này mùa xuân kim khí suy nhược? giờ đinh dậu kế bên nhật chủ, sát tinh khắc nhật chủ, năm gặp ấn thụ, ở xa không thông. Lại bị mộc vượng khắc ấn, không chỉ mậu thổ không thể sanh hóa, mà sửu thổ cũng bị mão mộc khắc. Trụ này bổ cục không thể thông chi lý. Trung vận nam phương sát địa, vất vả phong sương, bôn ba khắp nơi; giao canh thân vận, khứ mất mộc vượng, gặp cơ hội bất ngờ, được phái đi Thiểm Tây, liên tiếp tạo sự nghiệp lớn trong quân; đến vận tân dậu được hai mươi năm, làm đến chức phó quan, tây phương kim vượng có thể khắc mộc trợ thân, ấn có thể hóa sát mà thông vậy.
130 - Kỷ tị đinh mão tân mão ất mùi
Bính dần/ ất sửu/ giáp tý/ quý hợi/ nhâm tuất/ tân dậu
Trụ này mùa xuân kim hư nhược, mộc hỏa đương quyền, can năm ấn, can tháng sát tinh, không được tương thông, chi giờ mùi thổ, lại hội mão hóa mộc, chỉ toàn sinh sát, mà không phò trợ nhật chủ, thêm vận trình không thuộc phương tây kim địa, mà toàn thủy mộc, vẫn là căn gốc sanh vượng sát, mà gây nên phá bại tổ nghiệp, không làm nên việc gì; đến hợi vận, hội mộc cục sanh sát, mất mạng.
Chương 21 - Quan Sát
Nguyên chú : Sát tức quan tuỳ theo nhật chủ vượng hay suy. Nhật chủ vượng là quan, nhật chủ suy là sát vậy.
a - Sát trọng (vượng và có căn?), quan (nhược hay vô căn?) tòng sát, thì không phải hỗn tạp.
b - Quan trọng, sát trợ quan, cũng không phải hỗn tạp.
c - Bại tài cùng tỉ kiếp, sát có thể làm cho quan hỗn tạp.
d - Tỉ kiếp đều có, quan có thể làm cho sát hỗn tạp.
e - Một quan mà không có sanh ấn, sát trợ quan, thì không phải hỗn tạp.
f - Một sát mà gặp thực thương, quan trợ sát, cũng không phải hỗn tạp.
........
g - (Sát trọng mà Quan là can tàng bản khí nhược trong đất (chi) trọng có thể làm cho Quan Sát hỗn tạp.)
.
Nhâm thị viết : Sát tức quan, thân vượng sát là quan; quan tức sát, thân nhược lấy quan là sát, nhật chủ quá vượng, tuy không chế sát vẫn không sao. Quan tạp sát, nhưng quan vô căn thì sát làm chủ. Bỏ (chế) quan không ngoài thực thương, thực thương đều được. Hợp sát tổng quan thì mỹ sự, hợp hay không hợp cần phải thanh. Độc sát đương quyền, không có chế phục, có chức quyền nhưng không thanh liêm công minh; sát có chế, chủ thông căn, là người cầm quyền; sát sanh ấn, ấn sanh thân, danh vị cực cao; thân vượng có tài tinh, tài sanh sát, danh vị cao. Nếu sát trọng mà thân khinh, không nghèo hèn cũng yểu mạng; hoặc sát bị khắc chế quá nặng, thì tuy học nhưng không thành. Sát có thể hỗn tạp hay không hỗn tạp cần phải nghiên cứu lý cho tường tận.
Như thiên can giáp, bính, mậu, canh, nhâm là sát, địa chi có mão, ngọ, sửu, mùi, dậu, tý nên sát vượng địa, thì không hỗn tạp:
Thiên can ất, đinh, kỷ, tân, quý là quan tinh, địa chi có dần, tị, thìn, tuất, thân, hợi, nên quan tinh vượng địa, thì không hỗn tạp vậy.
Như thiên can giáp ất, địa chi dần; can bính đinh, địa chi tị; can mậu kỷ, địa chi thìn tuất; can canh tân, địa chi thân; can nhâm quý, địa chi hợi là quan hỗn sát, nên bỏ quan.
Như can giáp ất, địa chi mão; can bính đinh, địa chi ngọ; can mậu kỷ, địa chi sửu mùi; can canh tân, địa chi dậu; can nhâm quý, địa chi tý là sát hỗn quan, nên bỏ sát.
Năm tháng thiên can thấu xuất một sát, địa chi năm tháng tàng tài tinh, tức là quan tinh vô căn, khi này quan tòng sát thế, thì không phải hỗn tạp.
Năm tháng thiên can thấu xuất một quan, địa chi năm tháng tàng tài tinh, tức là sát vô căn, khi này sát tòng quan thế, cũng không phải hỗn tạp.
Thế tại quan, quan đắc lộc, sát dựa vào quan, can năm trợ sát, là hỗn tạp.
Thế tại sát, sát đắc lộc, quan dựa vào sát, can năm trợ quan, cũng là hỗn tạp.
Bại tài hợp sát, tỉ địch sát, quan có thể hỗn tạp.
Tỉ hợp quan, hiện kiếp tài, sát có thể hỗn tạp.
Một quan mà gặp ấn thụ quá trọng, quan tinh tiết khí, sát trợ quan, thì không hỗn tạp.
Một sát mà thực thương quá nhiều, chế sát quá mức, quan trợ sát, thì không hỗn tạp.
Nếu quan sát đều thấu xuất vô căn, tứ trụ kiếp ấn lại quá trọng, chẳng những mừng có hỗn tạp, can cần phải có tài tinh trợ quan sát vậy.
Tổng kết nhật chủ vượng không ngại quan sát hỗn tạp, nhật chủ hưu tù suy nhược không nên gặp hỗn tạp vậy. Luận về sát được phân chia thành sáu cách cục về dụng, chia thành các nhóm sau, học giả có thể lấy đó làm tham khảo.
1 - Tài sanh nhược sát cách
131 - Kỷ dậu bính dần canh thân canh thìn
Ất sửu/ giáp tý/ quý hợi/ nhâm tuất/ tân dậu/ canh thân
Theo tục luận mệnh này sanh mùa xuân kim thất lệnh, tài vượng sanh sát, sát tọa trường sanh, cho nên cần phải sanh phù nhật chủ chế sát, không biết xuân kim tuy thất lệnh, địa chi phùng thân dậu lộc vượng, lại đắc giờ thìn ấn thụ sanh thân, thân nhược biến thành vượng, do vậy mộc yếu kim cứng. Nếu không có bính hỏa, tất dần mộc khó tồn tại; nếu không có dần mộc, tất bính hỏa vô căn, tất cần phải dụng tài sanh sát vậy, mộc hỏa hai khí, thiếu một cũng không được. Giáp vận nhập quan; tý vận gặp thủy vượng sanh mộc, được bổ nhiệm; quý vận do có kỷ thổ thấu xuất, nên không xấu; hợi vận hợp dần hóa mộc, bính hỏa tuyệt xứ phùng sanh, thăng chức; nhâm tuất chi thuộc tây phương, mộc hỏa đều thụ thương, quan trình trắc trở, gặp hình tang háo tán; tân dậu kình dương tỉ kiếp, không lộc. Mệnh này do gặp vận tây bắc kim thủy vượng, nếu gặp vận đông nam mộc hỏa vượng, tất nhiên khoa giáp liên đăng, quan lộ hiển hách nhĩ.
132- Bính thân canh dần canh thân tân tị
Tân mão/ nhâm thìn/ quý tị/ giáp ngọ/ ất mùi/ bính thân
Mệnh này thiên can thấu hai canh một tân, địa chi tàng hai thân kim tọa lộc, bính hỏa tuy đắc lộc, không bằng canh tân nguyên thần thấu lộ, không được chi tị hỏa lộc sanh cho, nên canh kim trường sanh. Dụng tài sanh sát vậy. Thìn vận, thìn thổ tàng dư mộc khí, tinh thần đầy sức sống; tị vận bính hỏa lộc vượng, khoa giáp liên đăng; vận giáp ngọ, ất mùi, mộc hỏa đều vượng, công danh hiển hách. Nếu xem tổng quát, tứ trụ này không bằng tứ trụ ở trên, chỉ vì mệnh trước gặp hành vận tây bắc, mệnh này gặp vận đông nam. Phú quý tuy do cách cục định, nhưng phải đúng vận hạn mới khởi phát được. Nên câu “mệnh hảo không bằng vận hảo” thật đáng tin vậy.

Trả lời bài viết

Quay về “Kiến thức tứ trụ”

Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: 20 khách.