Những câu đoán bát tự thường dùng-1

Các bài viết học thuật về môn tứ trụ (tử bình, bát tự)
Trả lời bài viết
anh033
Chính thức
Chính thức
Bài viết: 91
Tham gia: 10:23, 02/06/10

Những câu đoán bát tự thường dùng-1

Gửi bài gửi bởi anh033 » 08:19, 26/07/10

Những câu đoán bát tự thường dùng, sưu tầm chưa biết tác giả gốc.
Sức khỏe

Tỷ kiên nhiều,cả đời ít ốm đau.
Nhật chủ cao cường, bình sinh ít bệnh.
Trụ có Thiên đức Nguyệt đức, cả đời ít bệnh.
Kim yếu gặp hỏa vượng, bệnh về đường huyết là chắc chắn.
Kim chủ về phổi, bị hỏa xung khắc, tửu sắc thành bệnh.
Thổ hư mộc vượng, nhất định tỳ vị bị tổn thương.
Mộc bị kim khắc, đau gân cốt, đau sườn, đau lưng.
Hỏa bị thủy khắc, mắt mờ.
Sinh mùa đông, mạng không có hỏa, chi dưới bị hàn lạnh.
Kiêu thần nhiều, thân lại nhược, phần nhiều bị bệnh phổi.
Hỏa thổ làm khô hết Quí thủy, bệnh về mắt.
Bính Đinh hỏa khắc hại Canh kim, bệnh đại tràng.
Ấn là hỏa thổ, nhiệt làm sinh đờm, tháo làm mình mẩy bị ngứa.
Kim thủy khô, thận hư.
Thương quan là kim thủy, hàn quá sẽ ho gió.
Thủy mộc sinh lẫn nhau, tỳ vị thương tổn .
Nhật thời Quan Sát tạp loạn, tật bệnh giao gia.
Kiêu đoạt Thực nên có bệnh.
Kim thần gặp thủy, vừa nghèo vừa bênh tật.
Nhật tọa Kiêu, hoặc Kiêu nhiều, bệnh do ăn uống mà gây ra.
Nhâm Quí gặp thổ vượng, chi dưới hư hao.
Kim gặp vượng thủy, bệnh về gân cốt.
Hợi Tý gặp Tỵ Ngọ, bệnh mắt.
Nhật yếu, Thực Thương nhiều, hay bị váng đầu.
Giáp mộc gặp hỏa nhiều, hay bị bệnh về thần kinh.
Trong trụ nhiều Hợi Tý, bệnh ở tiểu tràng, bụng dưới.
Tứ trụ hỏa nhiều, hồi còn thanh thiếu niên mặt nổi mụn nhọt.
Nữ phạm Thương quan, có bệnh khi sanh nở.
Mạng phụ nữ có Thiên đức Nguyệt đức, sanh sản không bệnh.
Nữ phạm Mão Dậu xung, chủ về trụy thai, khắc con.
Thương quan bị chế phục thái quá, đề phòng mắt đau, chân đau.
Dương nhẫn trùng trùng ba bốn chỗ, đề phòng đui điếc.
Thương quan trùng trùng, đề phòng đau ở eo, chân, xương.
Hình nhiều thế nào cũng bị thương tật.
Một Sát, ba Tài, hai hỏa chủ về bệnh mắt (Kỷ nhật).

Hỏa quá nhược hoặc tử tuyệt, dễ bị bệnh tim, bệnh bại huyết, viêm khớp, hôi chân, đau mắt. Tuổi còn trẻ thì dạ dày không tốt.
Mộc quá nhược hoặc tử tuyệt, phần nhiều bị váng đầu, hoa mắt, khí huyết không điều hòa, tóc thưa và mềm, có hiện tượng đau thần kinh, nếu nghiêm trọng sẽ đau gan, mật, tổn thương đùi và bàn chân.
Kim quá nhược hoặc tử tuyệt, chú ý khí hư, ho, da khô, đau khớp, lòi dom , đi tiêu ra máu, hô hấp không thông suốt, dễ cảm mạo, nếu nặng thì có thể bị bệnh phổi.
Thổ quá nhược hoặc tử tuyệt, có lúc da mặt bị vàng, kém ăn, chân tay uể oải , thích nằm ham ngủ, suy nghĩ vẩn vơ, không thích động tác, hay bị phù thũng, hôi chân, hôi miệng, bệnh về răng miệng, nếu nặng hơn một chút thì bệnh về hệ thống tiêu hóa, bệnh về da.
Thủy quá nhược hoặc tử tuyệt, dễ viêm thận, não xuất huyết, cận thị, bệnh ở hệ thống niếu đạo.
Mộc hỏa tương sinh mà lại quá vượng, thường cảm thấy tỳ vị căng đầy, sức ăn vẫn bình thường nhưng hễ ăn vô liền thấy no hoặc bị đè ép, ợ hơi, buồn nôn.
Kim thủy tương sinh mà quá vượng nên chú ý khí trệ, hen, ho , nghẹt mũi, hơi cảm thấy bồn chồn lo lắng, cảm thấy hiện tượng ngực dưới như bị thương, thở gấp, miệng khô khát.
Thủy mộc tương sinh mà quá vượng, nên chú ý tỳ vị hư, buồn nôn, hôi miệng, ợ hơi, kém ăn, thân thể suy nhược, mạch trầm yếu, phần bụng mềm yếu vô lực, mặt thiếu huyết sắc .
Thổ kim tương sinh mà quá vượng, hay khí hư, thường đầy bụng, bí đại tiện, khát nước.
Nguyệt lệnh tài tinh làm dụng thần, thời gặp Dương nhẫn, về già phát mệt mỏi, khốn khổ vì con cái .
Nghề nghiệp
Thực Thương phát tiết, hợp với những nghề văn chương, thư họa, giảng dạy, nghệ thuật.
Sát Ấn tương sinh, hợp theo nghề quân sự hoặc bác sĩ ngoại khoa, hoặc nhân viên cao cấp của xí nghiệp.
Quan Ấn rõ ràng, nên học chính trị hay pháp luật.
Tài Quan phù trợ lẫn nhau, nên học chính trị, pháp luật hoặc tài chính.
Thực Thương sinh Tài, nên học thương nghiệp, tiền tệ, tài chính, mậu dịch hoặc ngành nghề kinh doanh mang tính kỹ thuật.
Thân Tài lưỡng đình (mạnh bằng nhau), hợp thương nghiệp, mậu dịch.
Thương Quan Thương tận, hợp nghề võ, như quân sự, cảnh sát.
Sát Ấn tương sinh, hợp nghề võ, như quân sự, cảnh sát.
Thân nhược không có trợ giúp, tốt nhất đừng nên kinh doanh một mình.
Thân vượng không nương tựa, tốt nhất đừng nên kinh doanh một mình.
Ngũ hành cần thủy, hợp ngành nghề lưu động hoặc chức vụ ngoại giao.
Mạng có Dịch Mã, hợp ngành nghề lưu động hoặc chức vụ ngoại giao.
Ngũ hành quá khô, công tác trồi sụt biến động luôn luôn.
Bát tự bệnh nặng thuốc nhẹ(dụng thần yếu), làm việc luôn tự bỏ công bỏ sức ra mà kết quả không lý tưởng mấy.
Bát tự bệnh có thuốc chữa (dụng thần vừa đủ), làm ít mà kết quả nhiều, không tốn sức.
Tỷ Kiếp trùng điệp, không hợp làm quan hoặc nghề công thương nghiệp, nên theo nghề y, kế toán, thầy giáo hoặc ngành nghề tự do là hợp nhất.
Nhật chủ quá yếu, hợp mấy nghề kỹ xảo, nhất nghệ tinh nhất thân vinh.
Chính Quan là mộc, nhân cách thanh liêm chính trực mà nhân từ, và cũng biết khống chế bản thân, biết kết hợp với xã hội, đoàn thể, nên rất thích hợp mấy nghề quản lý như hành chính, tư pháp, CEO.
Chính Quan là hỏa, cá tính rất mạnh, cho nên thường “ Lộ thấy bất bình, bạt đao tương trợ”, có uy, cũng hợp nghề văn hóa, giáo dục, nghệ thuật.
Chính Quan là thổ, cá tính ôn hòa, đồng thời cũng là người chính trực, trên các mặt đều biểu hiện ngay thẳng và khoan dung, tuy nhiên cũng thích hợp nhiều ngành, xử lý sự việc quyết đoán, nghĩa khí, đồng thời khái niệm kinh tế cũng rất chính xác, thích hợp với nghề tài chính, kinh tế, tiền tệ, quân đội cảnh sát.
Chính Quan là thủy, cá tính xuề xòa nhưng cũng rất lý tính, có mưu trí, thích hợp phát triển trong ngành công thương , thủy sản…
Thân cường Sát vượng đới Nhẫn, phần nhiều là nghề võ, xây dựng, hoặc bác sĩ ngoại khoa.
Hoa Cái hoặc Văn Xương hoặc Không Vong đồng trụ với Chính Ấn, người này có thể thành công trong giới học thuật, văn hóa, tôn giáo.
Trụ có Thiên Ấn (Kiêu), rất nhạy cảm với sự việc, cho nên hợp mấy nghề điều tra, trinh sát, tình báo, và cũng hợp những nghề không chính thống như nghệ nhân, mở quán, minh tinh, hoặc những nghề làm ăn dựa vào nhân duyên.
Tài chế Thiên Ấn, sẽ thành công trong ngành nghề thực nghiệp (sản xuất).
Chính Quan Thiên Ấn tương sinh, nghề gì có làm công ăn lương là hợp.
Tỷ Kiên và Kiếp Tài là hỷ dụng, hợp ngành nghề kinh doanh hùn hạp, công ty, cơ cấu có chia cổ phần, cũng có thể tay trắng làm nên.
Mạng có Kiếp Tài Dương Nhẫn, Thực Thương yếu hơn Quan Sát, nên ráng theo nghề lao động trí óc, hoặc chuyên một môn có tính kỹ thuật đặc thù.
Mạng có Kiếp Tài Dương Nhẫn, Thực Thương yếu hơn Quan Sát, nên theo nghề “phá hoại” như quân nhân, tình báo, cảnh sát, công trình phá nổ, phát minh…
Thực Thần cách có cả Chính Quan và Thất Sát, hợp theo nghề không sản xuất, như y bốc tinh tướng, tam giáo cửu lưu…
Thực Thần và Chính Ấn đồng trụ, mà Ấn là dụng thần, hợp nghề viết lách.
Thân vượng, Tỷ Kiên mạnh, tránh kinh doanh hoặc đầu cơ mạo hiểm, tốt nhất làm công chức hoặc làm ăn ổn định.
Thực Thần là dụng thần, thích ca hát, biểu diễn.
Thực Thần sinh Tài, lợi kinh doanh dược phẩm, ăn uống, bánh trái, thức ăn gia súc, chăn nuôi gia cầm…
Thực Thần cách, mà Kiếp Tài Thiên Tài mạnh hơn Tỷ Kiên Chính Tài, hợp phát triển mấy nghề ca hát, âm nhạc, mỹ thuật, múa, thiết kế thời trang, thẩm mỹ…
Nhật chi tọa Thương Quan hoặc thiên can thấu Thiên Quan, hợp nghề kỹ thuật, sản xuất, học giả.
Kim thủy Thương Quan, giỏi hùng biện, hợp những nghề ăn nói, MC, tuyên truyền…
Thân vượng Thương Quan nhiều, lại không có chế hóa, mạng đi tu, nghệ thuật gia…
Thân vượng Tài nhẹ, hợp nghề kỹ thuật.
Có Tài tinh và Dịch Mã, hợp giao thông vận tải, buôn bán, thông tin, truyền thông…
Thân vượng Thiên Tài vượng, không bị Không phá, mạng cự phú.
Thân vượng Thiên Tài vượng, có Không phá, nhà kinh doanh nhỏ, hoặc nhà kinh doanh giỏi giao tế.
Thiên Tài gặp Thương Quan, theo nghề có tính thách thức, mạo hiểm, đầu cơ như mậu dịch, gia công, nghiệp vụ, marketing…
Thiên Tài gặp Chính Quan, nên theo nghề công vụ viên, thư ký, hành chính…
Tài đa thân yếu, Tỷ Kiên làm dụng thần, hợp làm ăn hùn hạp với bạn bè.
Tài đa thân yếu, Kiếp Tài làm dụng thần, đừng nên hợp tác với bạn bè, mà phải kinh doanh một mình.
Nữ mạng có Đào Hoa, Quí Nhân, Hoa Cái, phần nhiều là diễn viên hoặc là ca sĩ nổi tiếng.
Kiếp Sát gặp Chính Quan, mà Chính Quan là hỷ dụng thần, người này dáng vẻ uy nghiêm, ai gặp cũng nể, hợp nghề quân sự hay quan chức có tính chất phán đoán quả quyết.
Mạng có Không vong và Đào Hoa, phần nhiều là nghệ nhân trong dân gian.
Căn cứ vào ngũ hành để chọn nghề thích hợp:
Tứ trụ hỷ (cần) kim, nên theo nghề nghiệp có liên quan tới kim, như kinh doanh dụng cụ kim loại, máy móc của nhà máy, xe hơi, giao thông, tiền tệ, electronics, công trình, khai khoáng. Sự nghiệp phát triển lợi hướng Trung Tây, không lợi Đông Nam.
Tứ trụ hỷ thủy, nên theo nghề nghiệp có liên quan tới thủy, như chạy việc bên ngoài, có tính lưu động, làm đá, trữ lạnh, hàng hải, du lịch, nhà thể thao, ký giả, hotel…Lợi hướng Tây Bắc, bất lợi Trung Nam.
Tứ trụ hỷ mộc, nên theo nghề nghiệp có liên quan tới mộc, như lâm nghiệp, trồng trọt, kinh doanh đồ gỗ, đồ nội thất gỗ, văn nghệ, văn học, thầy giáo, nhà văn, giáo dục, hiệu sách, nhà xuất bản,công vụ, tư pháp, y liệu. Lợi Đông Bắc, không lợi Tây Nam.
Tứ trụ hỷ hỏa, nên theo nghề nghiệp có liên quan tới hỏa, như nhà máy, lò gạch, phát sáng, dầu, xi măng, ăn uống nóng, thực phẩm, quân giới, bách hóa, phát điện, diễn thuyết, chính trị, tôn giáo. Lợi Đông Nam, không lợi Tây Bắc.
Tứ trụ hỷ thổ, nên theo nghề nghiệp có liên quan tới thổ, như cố định thực nghiệp, khoáng mỏ, nông nghiệp thu hoạch, người trung giới, giới thiệu, luật sư, quan tòa, quản lý, cố vấn, thư ký, nhà đất bất động sản, kiến trúc, thiết kế… Lợi Trung Nam, bất lợi Đông Bắc.
Quan vận công danh
Quan ở vượng địa, rạng rỡ tổ tông.
Sát cư thái tuế, dù đang bình an cũng nên đề phòng.
Ấn thụ thông căn, gặp Quan liền quí.
Thìn Tuất Sửu Mùi tứ khố toàn mà thuận hành, mạng đế vương.
Tý Ngọ Mão Dậu tứ xung đắc thời, mạng đế vương (đắc thời tức nhật can vượng ở nguyệt lệnh).
Thất Sát có chế ngự, Dương Nhẫn không bị xung, cực quí, tướng của các tướng, chủ có quyền sinh sát (Thực Thần chế Sát, thân không được quá vượng).
Bính hợp Tân sinh, là tướng nắm giữ uy quyền (Nhật can Bính gặp tháng Tân Dậu hoặc nhật can Tân gặp tháng Bính Thân).
Sát Nhẫn rõ mà mạnh bằng nhau, chức tước tới Vương hầu (Thân phải vượng).
Kiếp Tài Dương Nhẫn, có Quan Sát, làm quan sang quí (Thân không được quá vượng hoặc quá nhược).
Mạng gặp tam kỳ, có tam hợp nhập cục, quốc gia lương thần.
Nhật thời củng lộc, là mạng quân tử rất quí, dễ được tước vị cao.
Củng quí mà thuần túy, mạng quí cấp tướng.
Sát vượng Ấn nhẹ, làm quan nhất định là quan võ.
Niên thời Quí nhân giao nhau, không có tử tuyệt xung phá không vong, nếu hỷ dụng thần phối hợp thích nghi, nhất định quí đến cực phẩm.
Thương Quan có Nhẫn, có tài làm tướng.
Thiên Quan có chế phục lại được sinh, uy trấn biên cương (Có Thực chế, có Tài sinh).
Trong trụ kim thủy tương sinh, quan to trong triều ( Thủy sinh tháng kim, không có thổ tạp lẫn).
Quan Ấn ở trụ năm và tháng, làm quan hay lui tới cung điện.
Có lộc và lộc đó hợp, làm quan cao ( Hợp sinh hoặc hợp quí).
Kim Thần đới Ấn, tham mưu trong nội các.
Tháng đới Quan Ấn, khảng khái thông minh, kiến thức cao, có công phò tá.
Tướng tinh cùng chỗ với Vong Thần, bậc đống lương của quốc gia.
Trên trụ tháng có Thất Sát, trên trụ giờ có Thực Thần chế ngự, nhật nguyên mạnh, tất là tướng của các tướng.
Trong trụ Ấn nhiều Tài lộ, rất muộn mới ra làm quan (Không có Sát).
Hoa Cái và Ấn tinh củng hội, là bậc lương thần như Quản Trọng.
Tài sinh Thất Sát, quyền uy trên cả vạn người, có thêm Ấn tương phù, làm quan cao cực phẩm.
Phúc Đức gặp Tài mà Quan ẩn, chức vụ rất cao ( Thiên Nguyệt Đức, Tài thấu Quan tàng).
Thương Quan thấu, Chính Quan ẩn, gặp Sát Ấn Tài, vị trọng quyền cao.
Thực Thần đới Nhẫn tọa Quan, làm quan Nhất phẩm (Nhật tọa Quan).
Tứ trụ Sát vượng, thân vượng là quan thanh liêm ( Trong trụ không có chút Quan tinh nào).
Có Quan có Ấn không bị phá, quan trong triều (Không có xung phá, Không vong).
Trong trụ có Dương Nhẫn, tam hình, tự hình, Khôi Canh, phát ở nơi biên giới (Thân phải nhược).
Nhật thời có Mã, làm quan thanh quí ( Ngày lộc giờ Mã, hoặc giờ lộc ngày mã, hoặc ngày giờ đều là Mã tinh).
Quan Sát rơi vào Không vong, nhậm chức hờ trong xã hội.
Canh Tân cục toàn Tỵ Dậu Sửu, vị trọng quyền cao.
Thương Quan gặp quí, quan cao ( Thương Quan thương tận).
Nhuận hạ cách, quan cấp dưỡng.
Giá sắc cách, quan cấp dưỡng.
Mã đầu đới kiếm trấn thủ biên cương.
Lộc Mã đồng vị, quan cao hiển hách.
Ấn lâm Thiên Ất, mấy đời làm quan.
Quan ở cung giờ, mạng cường, tuổi về già được phong quan.
Mã ở trụ giờ, tuổi già được tấn phong chức tước (Nguyệt lệnh Chính Tài cách, không xung khắc, mạng vượng).
Tam hình gặp quí, chấp pháp có quyền.
Thuần dương địa bao âm, binh quyền hiển hách.
Mã gặp đế vượng, trụ không có hình thương khắc hại, thăng quan tiến chức.
Quan tinh đới Đào hoa, rất quí.
Khôi Canh đới Sát phùng xung chiến, tính cao cường mà nắm quyền sinh sát.
Sát có Thực mà không có Kiêu thần, nếu không nắm quyền sinh sát cũng nắm chức quân đội, hình cảnh.
Tài trước, sau là Ấn, mỗi năm thăng quan một lần ( Trụ năm Tài trụ tháng Ấn hoặc tháng Tài giờ Ấn).
Lộc nhiều có Ấn phù trợ, chức vị cao hiển hách.
Quan Ấn không có Nhẫn không có Sát, quan vị thanh cao.
Nhật là Khôi Canh dễ nắm đại quyền.
Hoa Cái lâm vượng tướng, quyền cao chức trọng.
Thất Sát có chế ngự, hưởng lộc phong hậu.
Tứ trụ thuần dương, Thiên Ấn nhiều, ngôi vị cao ( Không có Thực Thần).
Sát Ấn đồng vị, ăn to nói lớn, gặp vận tốt sẽ có chức vị cao trong quân đội.
Thương Quan gặp Tài, quan cao mà tiền tài cũng khá.
Thực Thần sinh vượng đới Lộc Mã, văn thì nhậm chức hai tỉnh, võ thì đóng quân hai tỉnh.
Thực Thần đới hợp, làm quan nắm quyền nắm con dấu (hợp Ấn).
Dương Nhẫn gặp Ấn, người có lắm mưu kế.
Chi là Dương Nhẫn, can là Quan , trụ tháng và trụ giờ mà có thì rất hiển hách.
Vào ra nơi quyền quí, trên đầu quí nhân phải là Quan tinh ( Trụ tháng có Thiên Ất quí nhân).
Kim thần đới Sát, nhất định là quan quí.
Tháng là Sát Ấn, giờ là Thương Quan, làm quan rất được tín nhiệm.
Tài Quan đều đẹp, thấu Tài Ấn, làm quan chủ chốt cấp tỉnh ( Ngày Quí Tỵ tọa hướng tháng Tỵ, ngày Nhâm Ngọ tọa hướng tháng Ngọ, can thấu Tài Ấn).
Năm Chính Ấn, tháng Chính Quan, nhậm chức giáo dục.
Thương Quan đới Ấn, nhậm chức chỉnh đốn kỷ cương trong triều .
Quan gặp Vong Thần, Kiếp Sát thêm Thất Sát nữa thì là võ tướng.
Dần Thân Tỵ Hợi toàn, vị trọng quyền cao.
Trụ không Tài cũng không có Quan, khó mà có chức tước.
Trong trụ Thương Quan gặp Quan, không có Tài thì không có chức vị.
Có Quan mà không có Ấn, quan giả.
Quan tinh sợ hình xung hại, không lợi làm quan.
Quan tinh không nên thấy cả hai, sợ rằng làm quan không lâu.
Quan Sát hỗn tạp, không quí hiển được.
Tài tinh yếu, làm quan không lâu.
Trụ năm Thiên Quan, sẽ một ngày khắc hại.
Quan ngồi trên đầu Dương Nhẫn, thế nào cũng bị hình thương ( Như nhật can Giáp sinh tháng Tân Mão).
Người sinh ngày Canh Tuất, Canh Thìn, có Quan Sát đến phá, bất lợi làm quan.
Quan nhược, Tài nhược, không nên làm quan.
Ấn thụ toàn vẹn sinh thân, cửa nhà vẻ vang ( Ấn lợi vượng địa, không có Tài khắc Ấn).
Tài vượng sinh Quan, khởi nghiệp từ thưở thiếu niên ( Tiền đề là thân phải vượng).
Tài Quan Ấn đều toàn, thi đậu cao, dễ nổi danh.
Hỏa minh mộc tú, nhật chủ cường, có tố chất làm Trạng nguyên ( Xuân mộc gặp hỏa).
Ngày Quí, giờ Dần hình hợp, đi thi đậu tốp đầu bảng ( Gặp Tỵ).
Tháng Ấn sinh cho ngày, không có Tài tinh, văn chương giỏi giang, đi thi là đậu.
Thiên Nguyệt Đức lâm Tướng tinh, đậu cao.
Thương Quan bội Ấn mà Tài là dụng thần, nghề văn nổi tiếng .
Mã tinh hội ở Học Đường, có tài học.
Sinh phùng Hoa Cái, văn chương nghệ thuật.
Hỏa thịnh, văn chương sáng láng.
Kim thủy Thương Quan đắc lệnh, văn chương đầu bảng (Ngày kim sinh tháng thủy).
Can thấu Tài Ấn đều đẹp, trung niên thân đáo phụng hoàng đài ( Ấn phải có căn).
Trụ giờ Thực Thần cưỡi Lộc Mã, có danh tiếng dễ như trở bàn tay.
Tài Quan Thực, thông minh tú khí, văn tài xuất chúng.
Văn khố Tuất thổ bị xung mở, văn chương phát ào ạt.
Chính Ấn qui Lộc, quan ở Viện Hàn lâm nắm quyền thi cử.
Nhật cường Ấn vượng gặp Quan, đọc sách hơn vạn quyển.
Niên nhật nguyệt thời trong một Tuần, có tên trong bảng vàng.
Trụ năm có Ấn thụ phúc vô cùng, thụ ơn tập ấm lập công danh.
Đảo xung Lộc Mã, tuổi trẻ thành danh ( Ngày Bính Ngọ nhiều Ngọ, không có Mùi; hoặc Ngày Đinh Tỵ nhiều Tỵ, không Thân Thìn, không Quan Sát).
Qui Lộc gặp Tài gặp Văn Xương, nổi danh nghệ thuật.
Qui nhân Lộc Mã ở trụ giờ, rạng rỡ tổ tông.
Đinh Nhâm hóa mộc ở giờ Dần, văn chương cái thế thiên hạ ( Ngày Đinh giờ Nhâm Dần).
Ất mộc gặp giờ Bính Tý, Quan không bị xung hại rất thanh kỳ, dương danh bốn biển ( Không có xung hình hợp).
Tỷ Kiếp trùng trùng, tất có tranh đoạt, phải tranh mới thắng.
Thân suy Ấn nhược, đừng tới trường thi.
Thiên Quan bị chế phục thái quá, là nhà Nho nghèo.
Mệnh gặp Ất Bính Đinh, đới Không vong sinh vượng, ẩn sĩ trong núi.
Hình xung Dương Nhẫn, không thích học.
Tài nhiều Ấn ít thân nhược, có học vấn đi nữa cũng nghèo.
Có Sát không có Ấn thiếu văn tài.
Có Ấn không có Sát thiếu uy phong.
Ấn bị phá Tài bị thương, đừng ham tìm kiếm công danh.
Thiên Ấn nhiều, học nhiều thành tựu ít.
Nhật yếu Thực Thương lại nhiều, sợ học.
Nhật trụ Tài nhiều Tài vượng, không phải là người có học.
Thương Quan đới Ấn, có đảm thức thao lược, thành công vượt quá sức tưởng tượng của mọi người.
Thương Quan thân vượng Tài vượng, có tên bảng vàng (Chỉ Thương Quan thương tận).
Thực đàng trước Sát đàng sau, người công danh hiển đạt ( Thực tại năm tháng, Sát tại ngày giờ).
Thương Quan Dương Nhẫn đới Thất Sát, bảng vàng đề tên.
Giáp mộc Thương Quan gặp Dần Ngọ Tuất, hỏa minh mộc tú có thanh danh.
Sát tàng Quan lộ, ẩn ác dương danh, ai mà gặp phải, danh chấn hương bang.
Trụ tháng Sát cùng Nhẫn, nổi danh.
Tàng Ấn lộ Tài tự thân vượng, công danh hiển vinh.
Quan sinh năm, lưu danh thiên cổ.
Sát sinh năm, lưu danh thiên cổ.
Tỷ Kiên gặp Lộc, anh em danh cao.
Thời tọa Chính Quan, có tuổi mới thành danh.
Năm gặp Quan quí, tài cao, tuổi trẻ thành danh ( Thân vượng).
Trụ giờ có một Thiên Quan, dương danh vạn dặm.
Thương Quan không có chút Tài tinh, tuy thông minh cơ xảo cũng chỉ hư danh hư lợi.
Cha mẹ

Trụ năm hoặc trụ tháng gặp quí nhân, cha mẹ tướng mạo đẹp đẽ, thanh nhã.
Trụ năm hoặc Chính Ấn tọa Dịch Mã, ông cha hoặc cha mẹ hay đi buôn bán xa.
Trụ năm gặp Ấn, Học đường Từ quán, cha mẹ hiền lành, ông bà cha mẹ dòng dõi thư hương.
Trụ năm gặp Thiên đức Nguyệt đức, cha mẹ tâm địa hiền lành, có phước, hay làm điều thiện tích công đức.
Niên trụ Thực Thần mà không có Kiêu, cha mẹ to béo khỏe mạnh, tính cách thành thực.
Trụ năm gặp Chính Ấn Quan tinh, cha mẹ văn chương giỏi giang, làm quan hiển hách.
Chi năm Quan tinh gặp Tướng tinh, cha mẹ quí hiển, trung hậu .
Chi năm Tài tinh đắc lộc đắc quí, cha mẹ vinh hoa phú quí.
Chi năm là lộc, mà chi năm là quí nhân của can năm, gọi là đắc quí đắc lộc, cha mẹ là phú hào.
Can năm tọa Thiên đức hoặc Nguyệt đức là cha mẹ hiền từ lương thiện.
Chi năm hoặc Chính Ấn gặp Đào hoa, mẹ đẹp lại thông tuệ.
Thiên Tài qui lộc, cha rất vẻ vang.
Ngày có Tài, giờ có Kiếp, cha hưng vượng, con sa sút.
Trong trụ Thiên Tài gặp vượng địa, cha sống lâu.
Ấn gặp Trường sinh, mẹ sống lâu.
Chi ngày sinh chi năm, vợ có hiếu với mẹ chồng, hoặc quan hệ mẹ chồng con dâu rất tốt.
Chi năm hoặc Chính Ấn đóng trên Hoa cái, cha mẹ thông tuệ mà tính cô(quả).
Thìn Tuất Sửu Mùi toàn, ruột thịt chia lìa, thiếu cha hoặc mẹ.
Lệnh tháng bị xung, tổn cha mẹ hoặc người thân hoặc ly dị ( Xung gần).
Đề cương khắc năm, cha mẹ không toàn ( Ngũ hành của lệnh tháng khắc nạp âm của năm, hoặc chi tháng khắc chi năm).
Thiên Tài gặp Không mà Ấn vượng, cha mất sớm.
Tỷ Kiếp trùng điệp, cha mẹ khó thọ.
Phụ đóng ở mộ khố, cha mất trước.
Chi năm Thất Sát đới Dương Nhẫn, cha mẹ dữ, không có tiền và phước đức.
Tháng có Dương Nhẫn, khắc cha.
Tháng sinh can ngày, không nên gặp Tài, nếu gặp khắc mẹ hoặc mẹ có bệnh.
Ấn bị xung khắc, mẹ không chết cũng xa lìa.
Trụ có Kiêu và Thực gặp nhau, khắc mẹ.
Ngày giờ đều là Thực Thần, khắc mẹ.
Tài Ấn đều bị tổn thương, khắc mẹ, vợ mất.
Niên chi Ấn lâm Cô thần Quả tú, cha mẹ cô độc, không dựa thân thích.
Năm có Chính Quan bị Thương Quan xung khắc là cha mẹ nhiều bệnh va không thọ ( Thương Quan vượng Quan nhược, hoặc Thương Quan ở trụ tháng khắc thì mới nặng).
Ấn nhiều Quan Sát nhiều, cha mẹ không giúp đỡ gì được.
Chi ngày xung chi năm, mẹ không chết cũng xa lìa.
Trụ gặp Thiên Tài hai lần, mẹ lấy hai đời chồng,
Trụ hai lần gặp Ấn, cha tất có hai vợ.
Chính Ấn Thiên Ấn gặp nhau, nhất định có mẹ kế.
Quan vượng Ấn suy, cha mẹ anh em phân tán.
Tài nhiều Ấn nhược, cha mẹ nhiều bệnh.
Thực ở chi năm bị Kiêu vượng khắc, cha mẹ nhiều bệnh.

Con cái
Quan tinh sinh vượng, giờ lại có Trường sinh, con cái thông minh xinh đẹp.
Quan tinh đóng ở Đế vượng, con cái sẽ vinh hiển.
Cung thê hiển lộ, con cái nhiều.
Thương Quan gặp Tài, có con.
Thất Sát có chế ngự, nhiều con.
Tài Quan sinh cho trụ giờ mà lại sinh vượng, có đứa con giúp nước lợi nhà.
Gặp Chính Quan nhiều là sinh con gái nhiều, ít con trai.
Một Thực Thần thấu can là dụng thần, vừa có con lại vừa thọ.
Quan tinh đắc lộc ở ngày giờ, sinh con học giỏi đậu cao.
Thất Sát có chế hóa là uy quyền, có con rất tài giỏi.
Giờ có quí tinh của ngày, về già còn sinh quí tử.
Thực Thần làm dụng thần, sinh con cái hiền lành hiếu thảo.
Thất Sát ở trụ giờ, có Thực Thương chế ngự, con cái quí hiển.
Ấn đóng ở cung vị tử tức, con cái hiếu thuận, có thể thành gia lập nghiệp.
Nữ mạng gặp Thiên đức Nguyệt đức, con cái đậu cao.
Trụ giờ Thương Quan Mã tinh, con cái sinh ở nơi xa hoặc đi xa nhà.
Trụ giờ tọa Tài tinh , con cái thành gia lập nghiệp, hiếu thuận giàu có.
Trụ giờ tọa Thực Thần, con cái xinh đẹp mà mập mạp.
Chi giờ đóng Chính Quan, con cái tướng mạo đôn hậu, tính tình hiền hòa, trung thực.
Chi giờ hoặc Thực Thương đóng Hoa cái, con cái thông minh nhưng tính cô, mà còn chủ sinh con gái không sinh con trai.
Chi giờ hoặc Thực Thương đóng Đào hoa, con cái phong lưu, ham tửu sắc.
Chi giờ hoặc Thực Thương đóng Dịch mã, là con gái sinh ở đất khách quê người hoặc đi xa.
Thực Thương có quí nhân, con cái thông tuệ phú quí.
Chi giờ hoặc Thực Thương đóng Thiên đức Nguyệt đức, con cái tâm địa hiền lành, hiếu thảo.
Chi giờ hoặc Thực Thương đóng Trường sinh, con cái nhiều mà sống lâu.
Giờ đóng Thiên Ấn mà lại là hỷ dụng, con cái thành tài.
Chi giờ đóng Thất Sát có chế ngự và là hỷ dụng, con cái nhiều và quí hiển.
Mạng hỏa sinh mùa hè, thân thể tráng kiện thông minh.
Mạng thổ sinh mùa hè, thân thể tráng kiện thông minh.
Mạng kim sinh mùa thu, thân thể tráng kiện thông minh.
Mạng thủy sinh mùa đông, thân thể tráng kiện thông minh.
Giờ có Thương Quan, con cái lì lợm.
Trong trụ Thực Thương nhiều, khó có con.
Ấn thụ Kiêu thần, khó có con.
Cung con gặp mộ, con không bệnh cũng có lao tù, hoặc có tật, khó nuôi.
Thiên Tài Thiên Quan Thiên Ấn là con vợ thứ, nếu không cũng là con thứ ba thứ tư.
Sát đới hình, khắc tử.
Mẹ rõ cha mờ, phần nhiều là sinh trộm ( Ấn nhiều Tài ẩn).
Mạng nữ phạm Thương Quan Thiên Ấn, táng tử hình phu.
Ngày giờ Thìn Tuất xung, con khó đậu cao.
Mạng nữ đóng Hoa cái gặp Không vong, cả đời không sinh nở.
Mạng con nít thân nhược Sát vượng trùng điệp, không chết cũng tàn tật.
Thực Thần trùng điệp, Kiêu thần quá vượng, không có sữa.
Nữ mạng Quan tinh ở tử tuyệt, lại tiết khí quá nhiều, khắc con hoặc không có con.
Thìn Tuất Sửu Mùi toàn, đã khắc chồng lại còn không sinh con.
Nữ mạng có Mộc dục, con trưởng tất yểu.
Trụ ngày gặp hình xung phá lại thêm Nhẫn, khắc con trưởng.
Quan hưu tù lại bị khắc, con yểu chiết.
Thương Quan quá vượng, nhận nuôi con của chị em.
Bốn chi đều có Thương Quan, khóc con.
Thực Thần phá dụng thần, con là đứa phá gia chi tử.
Ngày vượng, Thực Thương Quan Sát rơi vào Không vong, không có con.
Năm tháng Tài tinh khắc trụ giờ Ấn, coi chừng con bị chấn thương tàn tật.
Quan tinh ở trụ giờ yếu, có con khó nuôi.
Thực Thương gặp xung, bất lợi cho con cái.
Giờ gặp Thương Quan, có con không theo con đường học hành.
Giờ đóng Thiên Ấn, con cái tính tình không lương thiện.
Giờ đóng Kiếp Tài, con nhiều nhưng chỉ phá.
Chi giờ đóng Thất Sát không có Thực chế ngự, con cái tính thô bạo, không nghe dạy dỗ.
Giờ có Dương Nhẫn, con cái tính cọc, bất hiếu.
Giờ có hình hại bất lợi con, hoặc hay bệnh.
Giờ ở nơi tuyệt địa coi chừng không người nối dõi.
Toàn trụ Thất Sát không chế ngự, không con.
Ngày đóng Thiên Ấn, vợ thường sinh non.
Chi ngày giờ xung nhau, đến trung niên coi chừng con cái hoặc vợ gặp họa.
Kiêu Thực gặp nhau bất lợi con cái.
Gặp cả Kiêu lẫn Thương Quan, mà Kiêu mạnh hơn, khắc con.
Gặp cả Ấn lẫn Thực, mà Ấn mạnh hơn, khắc con.
Can giờ khắc can năm, sinh con trai không được suôn sẻ.
Can giờ khắc can ngày, con không nghe lời cha.
Kiêu mạnh, thương tổn con.
Mạng nam can giờ khắc can ngày, con đầu thường là trai.
Mạng nữ can giờ khắc can ngày, con đầu thường là gái.
Can giờ là Tỷ Kiếp, con đầu thường là gái.
Can ngày can giờ sinh lẫn nhau, con đầu thường là gái.

Trả lời bài viết

Quay về “Kiến thức tứ trụ”

Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: 30 khách.