An tức Hương và A Nguỳ

Trao đổi về phong tục, tín ngưỡng
Trả lời bài viết
TrungThienDia
Nhị đẳng
Nhị đẳng
Bài viết: 392
Tham gia: 08:56, 30/08/09

An tức Hương và A Nguỳ

Gửi bài gửi bởi TrungThienDia » 20:16, 21/02/10

A nguỳ




-Xuất xứ : Đường Bản Thảo. -Tên khác : A ngu, Ẩn triển, Cáp tích nê, Hình ngu (Bản Thảo Cương Mục), A ngu tiệt, Ngùy khứ tật (Hòa Hán Dược Khảo), Huân cừ (Đường Bản Thảo), Ngũ thái ngùy (Trung Dược Chí), Xú a ngùy (Tân Cương Trung Thảo Dược Thủ Sách).
[/b]

-Tên khoa học : Ferula Assafoetida L.
Họ khoa học: Họ Hoa Tán (Umbelliferae).
-Mô tả : Là loại cây thảo sống lâu năm, cao từ 0,6 - 1m, cuống lá dẹp bao thân cây, lá chẻ, hoa nhỏ mầu vàng. Dược liệu thường dùng là khối mủ ngưng kết lại có hình dạng lớn nhỏ không đều. Mầu tím nâu hoặc nâu sậm, có khi mầu trắng , vàng . Cứng nhưng khi bóp thì mềm, dính. Có mùi hôi.
Khi xử dụng, chọn loại mầu tím nâu, lâu ngày không bay mầu là tốt.
Loại mầu nâu sậm có lẫn với phiến rễ và cát là loại hàng thứ phẩm.
-Địa lý : Trồng và sản xuất chính ở Ba Tư và Trung quốc. Vị thuốc này tại Việt Nam chưa trồng được , còn phải nhập.
- Thu Hái : Theo ‘Trung Dược Đại Tự Điển ‘ : thu hái vào những tháng mùa Đông, trước khi ra hoa. Khi lấy mủ, dùng dao rạch thành rãnh ở vỏ cây, phần trên gốc, lấy lá lớn đậy lại. Mấy ngày sau thì mủ chảy ra và ngưng kết lại , cách khoảng 10 ngày sau lại làm như vậy để thu mủ rồi để dành dùng .
-Phần dùng làm thuốc : Dùng nhựa cây ở phần rễ sau khi nhựa ngưng kết lại (Assafoetida).
Mô tả dược liệu: Hình khối méo mó, đông cứng như mỡ hoặc dính liền nhau. Mầu đậm nhạt không đều. Mặt ngoài thường mầu nâu vàng hoặc nâu hồng. Chất cứng hoặc hơi mềm mà dính, hơ nóng thì mềm ra. Thứ tươi mới cắt ra mầu tương đối nhạt, có thể thấy mầu sữa trắng xen lẫn mầu nâu nhạt hoặc nâu hồng, gọi là ‘Ngũ Thái A Ngùy’. Có mùi hôi lâu tan, vị hơi cay, đắng (Dược Tài Học).
-Bào Chế :
+ Khi dùng, cho thêm 1 ít Hạnh nhân ( Prunus Armeniaca L.) hoặc Đào nhân (Persica Vulgaris Mill) để dễ nghiền nát (Lôi Công Bào Chích Luận).
+ Cắt nhỏ, cho vào bát ( chén) có đáy nhám cho dễ nghiền hoặc trộn chung với các dược vị khác cho dễ nghiền (Phương Pháp Bào Chế Đông Dược).
+ Hòa tan A ngùy trong cồn 60o cho nóng, lọc ép qua vải thưa , loại bỏ tạp chất đến khi cho vào nước nghiền ra không dính tay là được , đun cách thủy cho rượu bay còn lại A ngùy (Những Cây Thuốc Và Vị Thuốc Việt Nam).
- Bảo quản :
+ Vì thuốc có mùi hôi nồng , cần để trong hộp thiếc kín, để riêng xa các vị thuốc khác cho khỏi lây mùi.
+ Nên để nơi mát , tránh nóng nếu không sẽ bay mất mùi tinh dầu.
-Tính Vị :
+ Vị cay, bình , không độc (Đường Bản Thảo).
+ Vị cay, ấm (Hải Dược Bản Thảo).
+ Vị nóng (Nhật Hoa Tử Bản Thảo)
+ Vị đắng, cay, tính nhiệt, có độc (Bản Thảo Chính).
+ Vị đắng, cay, tính ấm (Trung Dược Đại Từ Điển).
- Quy Kinh :
+Vào kinh Vị (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Giải).
+ Vào kinh túc Thái âm Tỳ, túc dương minh Vị (Bản Thảo Kinh Sơ).
+ Vào kinh Tỳ, Vị, Đại trường (Bản Thảo Tân Biên).
+ Vào kinh túc Thái âm Tỳø, túc Quyết âm Can (Ngọc Quyết Dược Giải) .
+Vào kinh Can, Tỳ và Vị (Trung Dược Đại Từ Điển).
+ Vào kinh Tỳ và Vị ( Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc Dược Điển).
-Thành phần hóa học :
+ Trong A ngùy có 10 - 17% chất dầu , 40 - 46 % chất nhựa, 25% chất keo, 1,5 - 10% chất tro và 60% các chất vô cơ, 45% Sec Butyl Profenyl Disulfide, Acid Ferulic, Farnesiferol và Umbelliferon (Những Cây Thuốc Và Vị Thuốc Việt Nam).
+ Farnesiferon A, B, C (Caglioti L và cộng sự, C A 1960, 54 : 616g).
+ Badrakemin, Coladonin Koladonin, Samarcandin acetate, Polyanthinin, Kamdonol, Gummosin Hofer O và cộng sự (Monatsh Chem 1984, 115 (10) : 1207).
+ Assafoetidin, Ferocolicin (Banerji A và cộng sự, C A 1988, 109 : 51717r).
-Tác dụng dược lý :
+ Trong loại Asafetida có mùi hôi, vị đắng mà cay, ảnh hưởng đến trường vị và hệ hô hấp (Những Cây Thuốc Và Vị Thuốc Việt Nam).
+ Có thể dùng trong các toa thuốc khu phong.
+ Ức chế độ cứng của hạch : Nước sắc A ngùy đắp bên ngoài có thể thấm vào các hạch cứng làm cho hạch mềm ra (Trung Dược Đại Từ Điển).
+ Ngừa giun : Dùng chung với Lưu Hoàng ( Sulfur ), Binh lang ( Areca Catechu L.) và Nhục quế (Cinnamomum Sp. ) đổ vào bao tử chuột nhắt có thể làm cho chuột ít mắc phải giun móc ( Ankylostome) (Trung Dược Đại Từ Điển).
+ Sử dụng liều cao đến 12g vẫn không thấy ngộ độc (Trung Dược Dược Lý, Độc Lý Dữ Lâm Sàng).
+ Tác dụng chống đông máu : Tiêm nước sắc A ngùy 10% vào tĩnh mạch chuột cống và chó với liều 2,5-10ml/kg thấy có khả kéo dài thời gian đông máu, bình quân 35-56%. Thí nghiệm trong ống nghiệm thấy thời gian ngưng kết huyết tương là 28-41% (Trung Dược Dược Lý, Độc Lý Dữ Lâm Sàng).
+ Tác dụng kháng bức xạ, tăng bạch cầu, tiểu cầu : A ngùy có tác dụng trị liệu hoặc ngăn ngừa nhiễm phóng xạ cấp, có khả năng nâng cao hoạt xuất của chuột lên ( 30%. Đối với chó bị nhiễm phóng xạ cấp, A ngùy có khả năng giữ được hoạt suất 42,9% (Trung dược dược lý, độc lý dữ lâm sàng).
+ Đối với chuột nhắt, A ngùy có tác dụng hoạt huyết, đối với thỏ nhỏ bị trúng độc cấp, thấy có tác dụng làm tăng bạch hoặc tiểu cầu. Thực nghiệm chứng minh rằng A ngùy dùng uống với liều 0,6mg/kg kết hợp với tiêm tĩnh mạch chuột cống liều 100mg/kg hoặc 200mg/kg thấy có tác dụng ức chế ADP ( ngưng kết tiểu cầu). Lâm sàng trị chứng bạch cầu suy mỗi ngày dùng 30mg, tỉ lệ đạt 76,6%, cao nhất đạt 93,3% (Trung Dược Đại Từ Điển).
+ Tác dụng chống ung thư : dùng hợp chất JTc - Z6 thấy có tác dụng ức chế ung thư phát triển, tỉ lệ đạt 90% trở lên (Trung Dược Dược Lý, Độc Lý Dữ Lâm Sàng).
+ Tác dụng giảm đau, chống co giật : A ngùy có tác dụng với thần kinh, làm mềm gân cơ, chống co giật (Trung Dược Dược Lý, Độc Lý Dữ Lâm Sàng).
+ Độc tính : Liều độc LD50 là 125 ( 75mg/kg. Liều dùng chích là 1520mg/kg, liều uống là 3155mg/kg (Trung Dược Dược Lý, Độc Lý Dữ Lâm Sàng).
+ Thử nghiệm trên 48 con chó và 26 con thỏ bị ngộ độc A ngùy cấp tính, thấy chức năng gan và điện tâm đồ bị xáo trộn (Trung Dược Dược Lý, Độc Lý Dữ Lâm Sàng).
-Tác dụng chủ trị :
+ Trị các loại giun, trừ mùi hôi, phá báng tích, hạ ác khí ( Đường Bản Thảo).
+ Trị các chứng ác khí ( Thiên Kim Dực phương ).
+ Trị tim và giữa bụng lạnh ( Hải Dược Bản Thảo ).
+ Trị chứng thi quyết ( cơ thể lạnh như xác chết), phá báng tích, khí lạnh, bụng trướng, sốt rét, hoắc loạn, tim và bụng đau , thận khí, ôn chướng ( Nhật Hoa Tử Bản Thảo).
+ Giải độc khi ăn phải các loại thịt trâu, dê hoặc ngựa chết ( Bản Thảo Hối Biên).
+ Cắt cơn sốt rét, chỉ ( cầm ) lỵ, giải độc, tan mùi hôi( Bản Thảo Thông Huyền ).
+ Tiêu tích, sát trùng, giải độc, tán buổi, tán hàn, khử đờm, kháng bức xạ, kháng ung thư, tăng bạch cầu, chống đông máu, trị Tâm giảo thống (Trung Dược Dược Lý, Độc Lý Dữ Lâm Sàng).
+ Trị thần kinh suy nhược, phế quản viêm mạn ( Tân Cương Trung Thảo Dược Thủ Sách) .
+ Trị tích báng , trùng tích, nhục tích, tim và bụng đau do hàn, sốt rét, kiết lỵ (Trung Dược Đại Từ Điển).
-Liều dùng : 0,12 - 2g chung với thuốc hoàn hoặc tán hoặc chế thành thuốc cao hoặc nấu thành cao bôi ngoài da .
-Kiêng kỵ :
+ Người Tỳ Vị hư yếu không dùng (Bản Thảo Kinh Sơ).
+ Uống nhiều A ngùy sẽ làm mất khí, hoa mắt (Y Lâm Toản Yếu).
+ Người Tỳ Vị hư yếu, ăn ít, ăn vào lập tức nôn dữ dội, tiêu chảy, cơ thể gầy yếu : không dùng (Bản Thảo Cầu Chân).
+ Người Tỳ Vị suy yếu, phụ nữ có thai không nên dùng (Trung Dược Đại Từ Điển).
+ “Vì A ngùy có mùi rất hôi, người Tỳ Vị suy yếu ngửi thấy là muốn nôn ngay” (Đông Dược Học Thiết Yếu).
+ Có thai không dùng (Trung Dược Dược Lý, Độc Lý Dữ Lâm Sàng).
-Đơn thuốc kinh nghiệm.
+ Phá Tích Tụ :
+ Trị Khí tích, nhục tích, ngực bụng đầy trướng, đau hoặc đau lan ra 2 bên hông sườn, không muốn ăn uống : Mộc hương 20g, Binh lang 20g, Hồ tiêu 10g, A ngùy 20g ( chế với giấm) . Làm hoàn, ngày uống 8 -12g với nước sắc vỏ Gừng sống
( A Ngùy Hoàn - Phổ Tế phương ).
+ Trị trẻ nhỏ bị thực tích, bụng to như bụng ếch, bụng đau , tiểu đục : A ngùy ( tẩm giấm 1 đêm ) 20g, Hoàng liên (sao) 20g, Hoa kiềm (tán nhuyễn) 12g, Sơn tra nhục 40g, Liên kiều 60g, Bán hạ ( tẩm nước Tạo giác 1 đêm ) 40g. Tất cả tán bột, trộn với nước hồ Thần khúc làm hoàn. Ngày uống 12 - 16g với nước cơm, lúc đói ( A Ngùy Hoàn - Y Học Cương Mục).
+ Trị tích tụ, bỉ khối, thực ẩm, khí huyết tích tụ lại: A ngùy, Sơn tra nhục, Nam tinh, Bán hạ, Thần khúc, Hoàng liên, La bặc tử, Liên kiều, Bối mẫu, Qua lâu, Phong hoa tiêu, Thạch hàm, Hồ hoàng liên , Bạch giới tử. Tán bột, tẩm nước Gừng, nấu chín bánh làm thành viên, mỗi lần uống 8g với nước nóng. Sau khi uống thuốc, ăn vài trái Hồ đào. Người suy yếu không được dùng bài này (A Ngùy Hoàn - Vệ Sinh Bảo Giám ).
+ Trị tích tụ, bỉ khối, thực ẩm, khí huyết tích tụ lại: A ngùy 20g, Bạch giới tử 100g, Bạch truật 120g, Tam lăng 80g, Nga truật 80g. Sao khô, tán bột. Lấy A ngùy chưng với rượu cho chảy ra, hòa thuốc bột trên làm thành hoàn. Ngày uống 12 - 16g với rượu ( A Ngùy Hoàn – Hà Nhật Trung Thủ Tập ).
+ Trị Tỳ Tích : A ngùy 2g , Kê tử hoàng ï5 trái, Hoàng lạp ( nến ) 40g. Nấu chung, chia làm 10 lần uống lúc đói. Uống sau 10 ngày đi tiêu ra máu đó là tích tụ đã tan. (Bảo Thọ Đường Kinh Nghiệmphương)
+ Trị tích khối : A ngùy, Nhũ hương, Một dược, Mang tiêu đều 80g. Tán bột. Đại hoàng 80g, Bạch giới tử 120g, Mộc miết tử 21 hột ( bỏ vỏ ), Xuyên sơn giáp 60g, Nhục quế 60g, Độc hoạt 60g, Loạn phác ( tóc ) 80g. Dùng dầu mè 1.600g nấu cho đến khi thấy dầu có sắc đen, bốc hết mùi thì cho thuốc bột và Hoàng đơn vào nấu đặc thành cao, dùng để bôi ngoài da ( Hà Nhật Trung Thủ Tập).
+ Trị nhục tích , bỉ khối , ăn không tiêu : Nhân sâm, Quất hồng, Tam lăng, Nga truật, Sa nhân . Nấu, thêm Xạ hương, Lưu hoàng, Tô hợp thành cao, dùng để bôi ( Trung Quốc Y Học Đại Từ Điển ).
+ Trị sốt rét : Yên chi, A ngùy đều 1 cục to, tán bột. Dùng nước cốt của Tỏi trộn đều sền sệt thành cao, bôi lên mặt hột Đào. Khi lên cơn sốt rét, đem thuốc dán vào vùng hổ khẩu tay, nam bên trái, nữ bên phải. Cơn sốt yên thì bỏ thuốc đi ( Ách Hổ Cao - Phổ Tế phương ).
+ Trị sốt rét có báng : A ngùy, Xuyên khung, Bạch truật, Xích phục linh, Hồng hoa, Miết giáp tiêm ( sao với váng sữa cho dòn ), Đại hoàng, bột Kiều mạch. Tán bột, uống với rượu. Sau khi uống 3 ngày , thấy bụng đau, máu mủ chảy ra là hiệu nghiệm(A Ngùy Hóa Bỉ Tán - Trương Thị Y Thông ).
+ Trị bụng đau : A ngùy nghiền nhỏ uống 4 - 8g với rượu nóng (Vĩnh Loại Kiềm phương ).
+ Trị bụng đau : A ngùy, nghiền nhỏ. Dùng nửa củ tỏi to bọc thuốc, nướng chín, nghiền nhỏ, làm hoàn. Ngày uống 2 - 4g với nước sắc Ngải diệp ( Tổng Vi Luận phương ).
-Tham khảo :
+ “ A ngùy rất hôi, người Di ( còn gọi là A ) rất sợ A ngùy. Dân Ba tư gọi là A ngu, dân Thiên trúc gọi là Hình ngu, kinh Niết bàn gọi là Ương quỷ, dân Mông cổ gọi là Cáp tích nê. Thời nhà Nguyên dùng nó để điều hòa thức ăn. Rễ của nó gọi là Aån triển vì tàng dưới đất mà phát triển ...” ( Y Học Cương Mục ).
+ “ A ngùy mọc nơi Tây phiên và Côn lôn, mầm lá, rễ và thân giống Bạch chỉ, giã nát rễ lấy nước nấu thành bánh là loại thượng hạng, cắt rễ phơi khô là loại thứ phẩm .Mùi của nó rất hôi mà lại trừ được các mùi hôi khác , thật là vật phẩm kỳ lạ “( Đường Bản Thảo).
+ “ Đạo Bà la môn nói rằng Huân cừ tức là A ngùy, lấy nước cốt từ rễ phơi khô như keo hoặc cắt lấy rễ phơi khô, và mùi nó rất hôi. Người Ấn độ ăn chay không dùng A ngùy. A ngùy dùng ăn thường thì trừ được mùi hôi. Người Nhung rất coi trọng việc này” ( Tân Tu Bản Thảo Đồ Kinh ).
+ “ A ngùy là loại thuốc hóa bỉ, đọa thai, sát trùng ... khí của nó cay mà hôi, khí vị có mùi cỏ dại nhưng không làm tổn thương vị khí quá, cho nên các phương thuốc cần dùng không thể bỏ quên được “( Bản Thảo Hối Ngôn).
+”Sách ‘Bách Nhất Tuyển Phương’ ghi :”Trị sốt rét đã nửa năm, dùng Chân A ngùy, Đơn sa (loại tốt), mỗi thứ 40g. Tán bột, trộn với nước cơn làm hoàn, to bằng hạt Bồ kết. Lúc đói, uống 1 hoàn với nước sắc Nhân sâm thì khỏi” ( Y Học Cương Mục).
+ “ Tịnh Tiêu Nham nói rằng A ngùy vị cay, tính bình , nhập vào kinh Tỳ, Vị, tiêu nhục tích, sát trùng, khử mùi hôi. Gốc từ nước Tây phiên , do mủ cây nấu thành, khí vị rất hôi. Lấy thử 1 ít, để trong đồ dùng bằng đồng một đêm, nơi chạm phải A ngùy sẽ trắng như Thủy ngân, đó là thứ thật. Người đời nay thường làm giả bằng Hồ toán bạch , người dùng không thể không cẩn thận “ (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển ).
+ ” Dù các vị thuốc có vị hôi cũng không bằng vị thuốc này. Mùi thơm là chính khí của trời đất, mùi hôi là ác khí của trời đất. Những mùi thơm hoặc hôi qua đều có tính luồn lách, thẩm thấu , đều có thể phá được tích tụ. Vì vậy, có thể xử dụng vị thuốc này phá được tích tụ, bỉ khối và sát trùng “ (Đông Dược Học Thiết Yếu).

vietyduong.net
An Tức Hương



[url=javascript:;]Hình ảnh[/url]

Xuất Xứ: Đường Bản Thảo. Tên Khác: An tức hương chi, Bồ đề, Cánh kiến trắng, Mệnh môn lục sự, Thiên kim mộc chi, Thoán hương, Tịch tà, Tiện khiên ngưu ( Hòa Hán Dược Khảo), Chuyết bối la hương (Phạn Thư). Tên Khoa Học: Styrax Tonkinensis ( Pier.) Craib. Thuộc họ Styracaceae.
[/b]

Mô tả: Cây nhỏ, cao chừng 15~20cm. Búp non phủ lông mịn, mầu vàng nhạt. Lá mọc so le, có cuống, dài khoảng 6~15cm rộng 22,5cm. Phiến lá nguyên hình trứng, tròn ở phía dưới, nhọn dài ở đầu, mặt trên mầu xanh nhạt,mặt dưới mầu trắng nhạt do có nhiều lông mịn. Hoa nhỏ, trắng, thơm, mọc thành chùm, ít phân nhánh, mang ít hoa.Quả hình cầu, đường kính 10~16mm, phía dưới mang đài còn sót lại, mặt ngoài quả có lông hình sao.
Địa Lý: Có ở Hoàng Liên Sơn, Hà Tuyên, Sơn La, Lai Châu, Hà Sơn Bình, Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh.
Thu Hoạch: Vào giữa tháng 6~7, chọn cây từ 5~10 tuổi, rạch vào thân hoặc cành để lấy nhựa. Đem về chia thành 2 loại:
. Loại tốt: mầu vàng nhạt, mùi thơm vani.
. Loại kém: mầu đỏ, mùi kém hơn, lẫn nhiều tạp chất ( vỏ cây, đất cát. ..).
Phần Dùng Làm Thuốc: dùng nhựa của cây ( Benzoinum). Thường là khối nhựa mầu vàng nhạt hoặc nâu, đỏ nhạt, mặt bẻ ngang có mầu trắng sữa nhưng xen kẽ mầu nâu bóng mượt, cứng nhưng gặp nóng thì hóa mềm, có mùi thơm.
Bào Chế: Lấy nhựa ngâm vào rượu rồi nấu sôi 2~3 lần cho đến khi nhựa chìm xuống, lấy ra, thả vào nước, khi nhựa cứng là được. Phơi cho khô.
Thành Phần Hóa Học:
+ An Tức Hương của Trung quốc chủ yếu gồm Acid Sumaresinolic, Coniferyl Cinnamate, Lubanyl Cinnamate, Phenylpropyl Cinnamate 23%, Vanillin 1%, Cimanyl Cinnamate 1%, Styracin, Styrene, Benzaldebyde, Acid Benjoic, tinh dầu quế 10~30%, chất keo 10~20%.
+ An Tức Hương của Việt Nam có chất keo 70~80%, Acid Siaresinolic, Coniferyl Benzoate, Lubanyl Benzoate 11,7%, Cinnamyl Benzoate, Vanillin 0,3%, Phenylpropyl Cinnamate 2,3%.
Tính Vị:
+ Vị cay, đắng, tính bình, không độc( Đường Bản Thảo).
+ Vị cay, đắng, hơi ngọt, tính bình, không độc (Bản Kinh Phùng Nguyên ).
+Vị cay, đắng, tính ấm (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Vị cay, đắng, tính ấm (Trung Dược Đại Từ Điển).
Quy Kinh:
+ Vào thủ Thiếu âm Tâm kinh ( Bản Thảo Kinh Sơ ).
+Vào thủ Thái âm Phế, túc Quyết âm Can kinh ( Ngọc Quyết Dược Giải ).
+Vào kinh Tâm và Tỳ ( Bản Thảo Tiện Độc ).
+ Vào kinh Tâm, và Tỳ (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+Vào kinh Tâm, Can, Tỳ (Trung Dược Học).
Tác Dụng:
+ Hành khí huyết, trừ tà, khai khiếu, an thần (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Tuyên hành khí huyết, phá phục, hành huyết, hạ khí, an thần (Bản Thảo Tùng Tân).
+ Khai khiếu, thanh thần, hành khí, hoạt huyết, chỉ thống ( Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc Dược Điển ).
+ Làm ấm Thận, trừ ác khí ( Hải Dược Bản Thảo ).
Chủ Trị:
+ Trị ngực và bụng bị ác khí( Đường Bản Thảo ).
+ Tri di tinh ( Hải Dược Bản Thảo ).
+ Trị huyết tà, hoắc loạn, đau nhức do phong, sinh xong bị huyết vận (Nhật Hoa Tử Bản Thảo)
+ Trị trúng phong, phong thấp, phong giản, hạc tất phong, lưng đau, tai ù (Bản Thảo Thuật).
+ Trị tim thình lình đau, ói nghịch (Bản Thảo Phùng Nguyên ).
+ Trị trẻ nhỏ bị động kinh, kinh phong ( Trung Dược Tài Thủ Sách ).
+ Trị thình lình bị trúng ác khí, hôn quyết, ngực và bụng đau, sinh xong bị chứng huyết vận, trẻ nhỏ bị kinh phong, động kinh, phong thấp, lưng đau (Trung Dược Đại Từ Điển).
+ Trị trúng phong, đờm quyết, khí uất, hôn quyết, trúng ác khí bất tỉnh, ngực bụng đau, sản hậu bị huyết vận, trẻ nhỏ bị kinh phong ( Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc Dược Điển ).
Liều Dùng:
. Dùng uống: 2g 4g.
. Dùng ngoài: Tùy theo vùng bệnh mà dùng.
Kiêng Kỵ:
+ Khí hư, ăn ít, âm hư hỏa vượng không dùng(Bản Thảo Phùng Nguyên ).
+ Bệnh không liên hệ đến ác khí, không dùng (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
+ Âm hư hỏa vượng không dùng (Trung Dược Đại Từ Điển).
Đơn thuốc kinh nghiệm:
+ Trị phong thấp, các khớp xương đau nhức: Lấy thịt heo nạc 160g, thái ra, trộn với 80g An tức hương, cho vào ống hoặc bình để lên lò, đốt lửa lớn nhưng phải để 1 miếng đồng để An tức hương cháy ở phía trên, để bánh có lỗ hướng về phía đau mà xông (Thánh Huệ Phương).
+ Trị trúng phong, trúng ác khí: An tức hương 4g, Quỷ cửu 8g, Tê giác 3,2g, Ngưu hoàng 2g, Đơn sa 4,8g, Nhũ hương 4,8g, Hùng hoàng 4,8g. Tán bột. Dùng Thạch xương bồ và Sinh khương đều 4g, sắc lấy nước uống thuốc ( Phương Mạch Chính Tông).
+ Trị tim bỗng nhiên đau, tim đập nhanh kinh niên: An tức hương, tán bột. Mỗi lần uống 2g với nước sôi ( Thế Y Đắc Hiệu Phương ).
+ Trị hàn thấp, lãnh khí, hoắc loạn thể âm: An tức hương 4g, Nhân sâm 8g, Phụ tử 8g. Sắc uống ( Bản Thảo Hối Ngôn ).
+ Trị phụ nữ sinh xong bị huyết vận, huyết trướng, cấm khẩu: An tức hương 4g, Ngũ linh chi ( thủy phi) 20g. Tán bột, trộn đều. Mỗi lần uống 4g với nước Gừng sao ( Bản Thảo Hối Ngôn).
+ Trị trẻ nhỏ bụng đau, chân co rút, la khóc: An tức hương chưng với rượu thành cao. Đinh hương, Hoắc hương, Mộc hương, Trầm hương, Bát giác hồi hương đều 12g, Hương phụ tử, Súc sa nhân, Cam thảo (chích) đều 20g. Tán nhuyễn, trộn với cao An tức hương và mật làm hoàn. Ngày uống 8g với nước sắc lá Tía tô ( An Tức Hương Hoàn - Toàn Ấu Tâm Giám).
+ Trị trẻ nhỏ bị kinh phong do tà: An tức hương to bằng hạt đậu, đốt xông cho đứa trẻ ( Kỳ Hiệu Lương Phương ).
+ Trị vú bị nứt nẻ: An tức hương 20g, ngâm với 100g cồn 80o trong 10 ngày, thỉnh thoảng lắc cho đều thuốc. Dùng cồn này hòa thêm nước bôi lên cho nứt nẻ (Những Cây Thuốc Và Vị Thuốc Việt Nam).
Tham Khảo:
+ “Diệp Đình Khuê, trong tác phẩm ‘Hương Phổ’ ghi: “Nhựa cây này có hình dạng và mầu sắc giống như trái Hồ đào, không nên đốt, nó có thể phát mùi thơm. Uông Cơ viết: Hoặc nói rằng khi đốt lên có khả năng quy tụ chuột lại là thứ tốt” (Y Học Cương Mục ).
+ “An tức hương mầu nâu (đỏ đen), hơi vàng, giống như Mã não, đập ra có sắc trắng là thứ tốt. Loại mầu đen bên trong lẫn cát, đất là loại xấu, do cặn bã kết lại. Dù là vụn hoặc thành khối cũng là thứ xấu, vì sợ là có mùi hương và tạp chất khác. Khi chế biến lại, rất kỵ lửa” (Bản Thảo Phùng Nguyên ).
+ Theo Tây Dương Tạp Trở của ĐoạnThànhThức nói rằng: cây An tức hương Xuất xứ từ nước Inran được gọi là cây trừ tà, cao khoảng 6,5 9,5m, vỏ mầu vàng đen, lá có 4 gốc, chịu lạnh không bị héo, tháng 2 hoa nở, mầu vàng, nhụy hoa hơi xanh biếc, không kết trái, đõe khoét vỏ cây thì có chất keo chảy ra như kẹo mạch nha, gọi là An tức hương. Tháng 6-7 keo đông cứng lại thì lấy dùng .
Đốt nó có công hiệu thông thần, trừ các mùi hôi thối ( Chưởng Vũ Tích ).

vietyduong.net

Trả lời bài viết

Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: 30 khách.