Ngũ hành bốn mùa

Luận giải, xem tứ trụ có bảo mật thông tin
Trả lời bài viết
thangngan
Nhất đẳng
Nhất đẳng
Bài viết: 237
Tham gia: 09:46, 06/02/12

Ngũ hành bốn mùa

Gửi bài gửi bởi thangngan » 16:53, 20/05/17

NGŨ HÀNH 4 MÙA(Trích Tam mệnh thông hội)
1- Kim: thích Mộc tượng, thượng sinh, không vong, đúc luyện – Kỵ Mộc vượng, Hỏa vượng, Hỏa mộ bại, Thủy hàn, Kim tiêu, hình sát khắc hại.
Kim đến âm là thể, trung hàm, đến dương là tinh nên thường cứng chắc khác hẳn các loại, Nếu độc âm mà không chắc thì là băng tuyết khi gặp dương thì phải tiêu, cho nên Kim không luyện thì không thành khí, Kim tụ lại mà không có Hỏa thì khó thành danh thoát phát: Kim mà nặng Hỏa mà nhẹ thì chấp sự khó nhiều, Kim nhẹ mà Hỏa nặng thì đúc luyện tiêu vong: Kim cực Hỏa thịnh là cách rất tinh, Kim Hỏa đều gọi trù ấn, nếu phạm sửu tự tức là tổn khuôn phép, Kim Hỏa nhiều gọi là thừa hiên, gặp tử suy thì thành bất lợi, Hỏa lớn luyện Kim thì đạt được công danh mà mau thối: thuần Kim tấu thủy được phú quý mà dư thừa.
Kim năng sinh thủy, thủy mà vượng thì Kim trầm. Thổ năng sinh kim, kim mà quý thì thổ tiện: kim không khô cạn thủy mà nặng thì trầm luân vô dụng: kim ở nơi thổ không tử tuyệt, thổ mà nặng thì chôn kim không hiển được. Hai kim 2 hỏa là tối thượng,, lưỡng kim lưỡng mộc là đủ tài (tiền ), 1 kim sinh 3 thủy thì hư nhược khó thăng, 1 kim đắc 3 mộc thì ngu độn tự tổn. Kim mà thành thì hỏa phài diệt cho nên kim chưa thành khí thì muốn gặp hỏa, khi đã thành khí thì không muốn gặp hỏa. Kim mà đến Thân Dậu Tỵ Sửu cũng có thể là thành.
Vận thì thích Tây Bắc mà bất lợi ở phương Nam.
Sinh ở tháng Xuân khí lạnh chưa hết quý ở nơi hỏa khí mà vinh, tính thì mềm mà thể thì yếu muốn được thổ phụ trợ, thủy mạnh thì lạnh tăng khó phát huy thế nhọn, mộc vượng thì tổn lực dễ bị nguy đứt gãy, kim đến tương trợ phò trì rất tốt, nếu không có hỏa thì mắt lòa chẳng lành.
Tháng Hạ thì kim tính thích mềm, hình thì chưa rõ nên rất sợ tử tuyệt, hỏa nhiều mà lại không đủ, thủy thịnh mà thể thêm rõ ràng, gặp mộc mà trợ quỷ hại thân, gặp kim mà phò trì cho tinh tráng, thổ bạc mà lại rất hữu dụng, thổ hậu mà lại mai một chẳng còn.
Tháng Thu thì Kim đương quyền đắc lệnh, hỏa đến đúc luyện thì được thành khí vật, nhiều thổ bồi dưỡng thì lại thành ngang trược, gặp thủy thì tinh thần xuất sắc, gặp mộc thì trác tước thi oai, kim trợ thì càng cứng, cứng quá thì khuyết, khí nặng thì càng vượng, vượng quá thì hại.
Kim ở tháng Đông thì hình tính đều lạnh, mộc đến thì khó mà trác tước được, thủy thịnh mà chưa hết cái họa trầm tiềm, thổ năng chế thủy, thể kim không lạnh, hỏa đến cho thổ mẹ con thành công, thích sánh vai tụ khí tương phò, muốn quan ấn ôn dưỡng làm lợi.
2- Mộc:
Thích đẽo gọt, sinh ốc thủ hỏa, bồi, sinh vượng địa diện, hữu đảng thành lâm- kỵ không triết, phiêu lạc, không vong, động quyền, tử tuyệt – khô cảo, tự phần, hao tiết, thấp cạn.
Mộc sinh hướng lên không chỗ dừng, khí nặng thì muốn kim sử dụng, mộc có kim tức có cái đức cao, thấu, nhưng lại thích thổ trọng tức căn gốc kiên cố, thổ ít tức là nhành tốt mà gốc nguy. Mộc nhờ thủy sinh, ít thì tư nhuận, nhiều thì phiêu lưu. Giáp tuất Ất hợi là gốc của mộc, Giáp dần Ất mão là là đất của mộc, Giáp thìn Ất tỵ là chỗ mộc sinh, đều là hoạt động của mộc vậy. Giáp thân Ất dậu mộc bị khắc,Giáp ngọ Ất mùi là mộc tự tuyệt: Giáp tí Ất sửu là kim khắc mộc, đều là tử mộc vậy. Sinh mộc thì muốn hỏa mà đẹp, Bính Đinh cũng vậy, tử mộc được kim mà tạo ra, Canh tân thì lợi, sinh mộc gặp kim thì tự tổn, tử mộc gặp hỏa thì tự thiêu, không có phong thì dừng tức loạn thế vậy, gặp thủy thì phân hóa về nguồn tức thế tận vậy. Kim mộc với nhau có cách là đẽo gọt, muốn tới Thu sinh lại trở thành thượng phủ nên Thu sinh kỵ kim trọng vậy. Âm mộc thì nhiều hỏa,
Sinh nơi tháng Xuân như có lạnh nhiều thì thích hỏa ấm áp, chẳng bị cong queo, nhờ thủy tương phò mà được đẹp, đầu Xuân không nên thủy thịnh, âm nồng thì gốc tổn cành khô, mộc Xuân thì dương khí khô hanh, không có thủy thì lá trích rễ cạn, phải dùng mộc hỏa 2 thứ ký tế thì tốt, thổ nhiều mà tổn sức, thổ mỏng thì tài phong, kỵ gặp kim nặng thì bị thương tàn, khắc phạt một đời không nhàn, nên để mộc vượng đắc kim là tốt suốt đời hưởng phước.
Mộc tháng hạ rễ cạn, lá khô, cong mà lại thẳng, gãy mà lại ngay, muốn có thủy thanh để được tư nhuận, kỵ gặp hỏa vượng sợ bị thiêu đốt rất là hung, thích có thổ mỏng mà không thích thổ trọng hậu, hậu quá thì trở thành tai ách, ghét kim có nhiều nhưng không nên khiếm khuyết, khuyết thì không thể trác tước được: trùng trùng có mộc thì trở thành rừng, quá nhiều là lá thì không thành trái.
Mộc tháng Thu thì khí dần thê lương,hình dần tàn tạ, đầu Thu thì thích có thủy thổ tương giúp, đến kỳ giữa thu thì quả đã thành nên muốn được kim cứng để tước chẻ, sau sương giáng không nên có thủy thịnh, thủy thịnh thì mộc phiêu: đến tiết Hàn lộ thì lại thích hỏa nóng, hỏa nóng thì mộc thật, mộc nhiều thì đẹp nhiều công dụng, thổ dày thì không phải được việc,
mộc tháng Đông thì quanh co ở đất, muốn thổ nhiều để bồi dưỡng, sợ thủy thịnh dễ bị tiêu vong, kim đều không thể khắc phạt, hỏa trọng thì được ấm áp, thành cái công về gốc sinh lại mệnh, mộc mà bệnh thì phải được phù trợ, sợ nhất bị tuyệt mà phải cần sinh vượng.
3- Thủy:
Thích thanh khiết, khoan viễn, tương sinh, hỏa tế, nhuận hạ, Tây bắc – Kỵ: không vong, phiếm lạm, khắc hại, khí hàn, khô hạc, tử tuyệt, tiêu táo đẳng thổ.
Nghiêng về Tây Bắc, ở Hợi là phương xuất thủy, địa hãm ở Đông nam Thìn là chỗ nạp thủy nghịch chảy đến Thân mà rõ tiếng cho nên thủy không lưu ở Tây, tính thủy nhuận hạ, thuận thì đẹp, thuận hành 12 thần là thuận vậy, chủ có độ lượng, có cát thần phò trợ thì là quý cách. Nghịch tức có tiếng, nghịch hành 12 thần là nghịch vậy, về nhân cách thì chủ thanh quý có tiếng khen, kỵ bị hình xung thì hoành lưu, thích tự tử tự tuyệt thì tốt, thủy không tuyệt nguồn, nhờ kim sinh mà lưu chảy, thủy chảy phiếm lạm thì nhờ thổ khắc để đề phòng, thủy hỏa đều nhau thì hợp thành ký tế, thủy thổ mà hỗn tức xấu bị trược nguyên, tứ thời đều kỵ nhiều hỏa vì bị khô cạn, kỵ gặp thổ trọng vì bị chận lưu, kị gặp kim tử, kim tử thì thủy hung, kỵ gặp mộc vượng, mộc vượng thì thủy tử.
sinh ở tháng Xuân thì tính lạm thao dâm, lại gặp thủy trợ tức chẳng tránh vỡ đê, nếu có thổ thịnh thì không lo bị phiếm trướng: thích kim sinh phò mà không nên kim thịnh, muốn có hỏa ký tế mà không cần hỏa nhiều, gặp mộc thì khả dĩ thi công, không thổ thì cũng buồn tản mạn.
Thủy mùa Hạ tính muốn về nguồn, thời đương khô hạn muốn được sánh vai, kỵ kim sinh mà trợ thể, kỵ hỏa vượng mà quá nóng, mộc thịnh thì hao khí, thổ vượng thì khắc chế sự lưu thông.
Thủy tháng Thu đắc kim trợ thì được thanh trừng, gặp thổ vượng thì sợ hỗn trược, hỏa nhiều thịnh tài thái quá, không nên gặp mộc thịnh, nên trung hòa là lợi trùng trùng gặp thủy thì tăng sự phiếm lạm, gặp thổ nhiều hơn thì được sự thanh bình.
Thủy tháng Đông chấp lịnh chuyên quyền, gặp hỏa thì thêm ấm, trừ hỏa gặp thổ thì hình tạng quy hóa, kim nhiều thì trở thành vô nghĩa, mộc thịnh thì hữu tình, thổ thái quá khắc chế thì thủy tử, thủy mà quá lạm thì lấy thổ mà đề phòng.



4- Hỏa:
Thích hòa hoãn, sinh trợ, không vong. Viêm thượng, cao viễn, thượng chiếu, thủy tề - Kỵ cuộc tróc, cấp táo, thanh lãnh, thủy trọng, mộc khô tạp đãng, mộc bại, tử thủy chi mộc
- Hừng hừng chân hỏa, đứng ở phương Nam, cho nên với hỏa không thể không rõ cái lý, huy quang không lâu thì cần phải phục tạng, cho nên cái sang không thể không mất cái tượng.
Hỏa lấy mộc làm thể, không mộc thì hỏa không có lửa dài. Hỏa lấy thủy mà dụng, không thủy thì hỏa quá tàn khốc, cho nên hỏa nhiều thì không thực, nóng quá thì hại vật. Mộc thường chứa hỏa, đến dần mão là phương sinh. Hỏa không lợi ở Tây, gặp thân dậu thì phải tử. Hỏa sinh ở Ly, nếu cư ở Khảm thì Cẩn úy thủ lễ. Kim được hỏa hòa thì năng đúc nấu, thủy được hỏa hòa thì thành ký tế, gặp thổ bất minh, nhiều thổ thì kiển tắc, gặp thủy nơi vượng thì quyết định là mộc tử hỏa hư khó được dài lâu, dù được công danh cũng không vinh hiển.
Xuân kỵ gặp mộc vì dễ bị thiêu. Hạ kỵ gặp thổ vì sợ bị ám. Thu sợ gặp kim, kim vượng khó khắc chế. Đông kỵ gặp thủy, thủy vượng thì diệt mất. Cho nên mùa Xuân hỏa muốn sáng mà không muốn nóng, nóng thì không thật.
Mùa Thu hỏa muốn tạng mà không muốn rõ, rõ thì khô.
Mùa Đông hỏa muốn sinh mà không muốn sát, sát thì ám.
Sinh ở tháng Xuân thì mẫu vượng tử tướng, thế lực gồm đủ, thích được mộc sinh phò, không nên quá vượng, vượng thì hỏa nóng, muốn thủy ký tế, không buồn hưng thịnh, thịnh thì cô âm, thổ nhiều thì mất sáng, hỏa mà thịnh tổn hại quá nhiều, gặp kim thì có thể thi công, dù trùng điệp cũng không ngại.
Hỏa tháng Hạ chuyên quyền thế lực nếu gặp thủy chế thì khỏi bị nạn thiêu rụi, gặp mộc trợ thêm thì bị họa yểu triết, gặp kim thì có công lương, được thổ thì được thành mầm giống, kim thổ tuy là đẹp lợi, mà không thủy thì kim táo thổ tiêu, lại thêm lấy hỏa thái quá thành nguy.
Hỏa tháng Thu, tính dừng thể nghỉ, được mộc sinh thì lại trở thành tươi sáng, nếu gặp thủy khắc thì khó thoát cái họa bị diệt: Thổ trọng thì chắn mất ánh quang, kim nhiều thì tổn thương cái thế, hỏa gặp hỏa thì quang huy, điệp kiến mà chuyên lợi.
Hỏa tháng Đông thì thể tuyệt hình vong, cần mộc sinh để cứu, gặp thủy khắc thì tai họa, muốn thổ chế mà là vinh, cần sánh hỏa thì lợi, gặp kim thì khó mà gánh vác, không kim thì không gặp thê hại, trời đất tuy nghiêng mà thủy hỏa khó diệt.

5- Thổ:
- Thích sinh phò, kiên hậu, sở thông, sinh kim
– Kỵ: băng đồi, mộc trọng, thủy đa, không vong, khí hàn, kim trọng, thô thiển.
-Trong ngũ hành thì thổ tán tại tứ duy cho nên kim mộc thủy hỏa y theo mà thành tượng là tứ thời đều hữu dụng và cái sở kỵ là hỏa tử ở Tây mà thủy vượng ở tí vậy: bởi thổ nhờ hỏa ấn,, hỏa mà tử thì thổ tù: thổ thích thủy tài, thủy mà vượng thì thổ hư: thổ mà được kim hỏa thì thành đai khí: thổ cao không thật thì chỉ như tro, thổ mà tụ thì trệ, thổ mà tán thì nhẹ.
Thìn tuất sửu mùi là chánh vị của thổ, phân âm phân dương nên chủ không đồng. Thìn thì dục phục thủy, mộc núp trong thủy mà sinh trưởng vạn vật, Xuân Hạ là công, Tuất có chứa hỏa: Sửu thì dục ẩn kim, Thu hỏa Đông kim, kim tiêu sát vạn vật nên thổ tụ ở Thìn Mùi thì quý, tụ ở Tuất Sửu thì không quý. Vậy là thổ thích Thìn Mùi mà không thích Tuất Sửu vậy. Biết vậy, nếu thêm ngũ hành có khí mà nhân mệnh được gặp thì điền sản rất nhiều, suốt đời phú quý sung sướng, nếu thổ đại mà không thủy tức không hòa, nếu không mộc thì không thông suốt, thổ gặp hỏa thì cháy khét, nữ mệnh thì phần nhiều không sinh trưởng.
Thổ vượng ở tứ quý, chỉ ở Tuất thì thổ khốn nhược, Tuất nhiều là người thích tranh đấu, hay ngủ gật, Thìn Mùi là người thích ăn, Sửu là người thanh tịnh. Sửu có Cấn thổ có quý thủy năng nhuận, nhân mệnh mà gặp thì xuất chúng,
sinh ở tháng Xuân thì thế hư nhược, thích được hỏa sinh phò, ghét mộc thái quá, kỵ thủy phiếm lạm, thích được tương trợ, đắc kim mà chế thủy thì tốt, kim mà nhiều vẫn mất khí thổ.
Thổ mùa Hạ thì thế khô nóng nếu được thanh thủy tư nhuận thì hay, kỵ vượng hỏa nung đúc cháy đỏ, mộc trợ hỏa cháy sinh khắc không lành, kim sinh thủy phiếm thê tài có ích, gặp ngang nhau thì kiển trệ không thông, nếu thái quá thì lại thích mộc hợp lại.
Thổ tháng Thu tử vượng mà mẫu suy, kim nhiều nên bị hao mất khí, mộc thịnh để chế phục cho tốt, hỏa trùng trùng mà không đủ, thủy phiếm phiếm mà chẳng hay, được sánh nhau thì năng trợ lực, đến Sương giáng thì không bằng không lo.
Thổ tháng Đông trong ấm ngoài lạnh, thủy vượng thì phát tài, kim nhiều thì con đẹp, hỏa thịnh thì vinh quang, mộc nhiều mà không lỗi, lại thêm thổ trợ thì rất tốt, chỉ thích thân cường túc thọ.
Từ đại Thăng nói:
-Kim nhờ thổ sinh, thổ nhiều thì chôn kim.Thổ nhờ hỏa sinh, hỏa nhiều thì thổ cháy. Hỏa nhờ mộc sinh, mộc nhiều thì hỏa dữ. Mộc nhờ thủy sinh, thủy nhiều thì mộc trôi. Thủy nhờ kim sinh, kim nhiều thì thủy nhuận.
-Kim năng sinh thủy, thủy nhiều thì kim trầm. Thủy năng sinh mộc, mộc thịnh thì thủy thiếu. Mộc năng sinh hỏa, hỏa nhiều thì mộc thiêu. Hỏa năng sinh thổ, thổ nhiều thì hỏa hết. Thổ năng sinh kim, kim nhiều thì thổ biến.
- Kim năng khắc mộc, mộc chắc thì kim khuyết. Mộc năng khắc thổ, thổ trọng thì mộc gảy. Thổ năng khắc thủy, thủy nhiều thì thổ trôi. Thủy năng khắc hỏa, hỏa mạnh thì thủy nóng. Hỏa năng khắc kim, kim nhiều thì hỏa mòn.
- Kim suy gặp hỏa thì phải tiêu dung. Hỏa yếu mà gặp thủy thì bị tiêu diệt. Thủy yếu mà gặp thổ tức bị ứ tắc. Thổ suy mà gặp mộc tức bị khuynh hãm. Mộc yếu mà gặp kim tức bị chặt đứt. Kim mạnh mà gặp thủy tức giảm cái nhọn.Thủy mạnh mà gặp mộc thì giảm cái thế. Mộc mạnh mà gặp hỏa thì dễ hóa than. Hỏa mạnh mà gặp thổ thì dừng lửa ngọn Thổ mạnh mà gặp kim thì chế cái hại.

Trả lời bài viết

Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: 10 khách.