Những câu đoán bát tự thường dùng-3

Các bài viết học thuật về môn tứ trụ (tử bình, bát tự)
Trả lời bài viết
anh033
Chính thức
Chính thức
Bài viết: 91
Tham gia: 10:23, 02/06/10

Những câu đoán bát tự thường dùng-3

Gửi bài gửi bởi anh033 » 08:25, 26/07/10

Hôn nhânNhật tọa Tài, có Tướng tinh đóng ở đấy, nhất định lấy con nhà danh môn vọng tộc.Nhật yếu tọa Ấn, vợ hiền thục, đắc lực.Nhật tọa Thiên Ấn, vợ hiền thục, đắc lực.Nhật tọa Quí nhân, vợ hiền thục xinh đẹp, có uy vọng.Can ngày vượng, Chính Tài Thiên Tài cũng vượng, vừa giàu vừa nhiều thê thiếp.Chi ngày là Tý Ngọ Mão Dậu, vợ đẹp.Chi ngày là Thìn Tuất Sửu Mùi, vợ bình thường.Chi ngày là Dần Thân Tỵ Hợi, vợ đôn hậu.Lộc của can ngày qui ở giờ, quí, được nhiều người hâm mộ.Chi ngày tọa Lộc của chi năm, hoặc Quí thần, vợ được quốc gia tấn phong.Thiên Ất quí nhân nhiều, do giao tế nhiều nên trở thành người chuyên gia về giao tế.Can ngày vượng, lại gặp Dương Nhẫn nhiều, hôn nhân dễ biến chuyển.Tứ trụ nữ mạng gặp Mã, trong chi của Mã có Quan Sát, lấy chồng xa hoặc lấy chồng nước ngoài.Tứ trụ nam mạng gặp Mã, trong chi của Mã có Tài tinh, lấy vợ xa hoặc lấy vợ nước ngoài.Thiên Tài vượng lại đắc vị, thiếp hơn thê ; Chính Tài vượng, thê không nhịn thiếp.Mã nhập thê cung, ăn lộc của vợ.Hàm trì ở ngày, nhờ vợ mà giàu.Nam gặp Tài nhiều thân nhược, hay nghe lời vợ.Trong chi có ẩn Tài, có vợ bé.Tài là dụng thần, vợ hiền và đẹp, nội trợ giỏi.Thương Quan tựu Lộc, Tài tinh đắc lệnh, sớm lấy được con gái nhà danh giá.Trụ có Thiên Tài, yêu vợ thì ít yêu thiếp thì nhiều.Thương Quan bị khắc chế, lấy vợ vì nghĩa.Tài tinh tự tọa Trường sinh, không bị xung, vợ sống lâu.Nhật tọa Chính Quan, vợ tướng mạo đoan chính, hiền lành dịu dàng.Nhật tọa Tài, gia vụ và tài vụ đều do vợ quản lý.Nhật tọa Chính Tài, thân vượng, chi ngày lại được Thực Thần sinh Tài, hôn nhân rất mỹ mãn, được vợ hiền thục suốt đời bên cạnh, cưới xong gia đạo ngày càng thịnh vượng.Cách Chính Tài, thân vượng, trong mạng lại có Chính Quan, vợ chồng tình cảm gắn bó keo sơn.Chi ngày là hỷ dụng, vợ hiền tuệ, lại là nội trợ giỏi, nếu thêm Thiên đức Nguyệt đức, vợ tính từ thiện, khảng khái hay bố thí, có cả tài lẫn đức.Tài vượng thân cường, vợ đẹp lại giỏi giang, biết nội trợ, dễ nhờ vợ mà quí.Nhật tọa Tài, mà Tài là hỷ dụng, tất được tiền của vợ.Nhật chủ rất yếu, Dương Nhẫn đóng ở chi ngày, được vợ giúp cho rất nhiều, mà vợ lại rất cơ trí thông minh, hôn nhân rất mỹ mãn.Chi ngày có Thực Thần đóng, mà lại là hỷ dụng, không có Kiêu khắc, vợ béo mập, sống hậu đạo, hiền tuệ trì gia.Chi ngày có Chính Quan đóng, mà lại là hỷ dụng, không có Thương Quan khắc, vợ đoan trang, dịu dàng hiền thục, đắc lực trì gia.Chính Tài sinh Chính Quan, mà Tài Quan là hỷ dụng, tất được giúp đỡ, nhờ vợ mà quí.Nhật chủ nhược, Tỷ Kiên đóng ở chi ngày, vợ giỏi giang, giúp đỡ nhiều.Thân cường Sát yếu, Tài tinh trợ Sát, vợ giỏi mà lại giàu, hoặc nhờ tiền của vợ mà giàu.Thân cường Quan yếu Thương Quan nhiều, Tài tinh hóa Thương Quan, vợ giỏi mà lại giàu, hoặc nhờ tiền của vợ mà giàu.Tài vượng thân nhược, có Tỷ Kiếp gánh bớt Tài giúp thân, vợ giỏi. Tài khắc Ấn, có Quan tinh hóa Tài sinh Ấn, vợ giỏi.Tài tinh có Thiên Ất quí nhân, hoặc tọa Thiên Ất quí nhân, mà lại là hỷ dụng, vợ xinh đẹp, thông minh thiên phú, cũng còn ý nghĩa lấy được con nhà khá giả.Thương Quan thương tận chi có hợp, lấy không qua mai mối.Nhật tọa phu tinh, mà là dụng thần, chồng đạ quí, vợ chồng hòa thuận.Tài đắc địa lợi cho chồng.Thực Thần đắc địa lợi cho con.Nữ mạng không có Sát, có một Quan cũng có thể làm phu nhân.Thương Quan không gặp Quan, là người phụ nữ trinh khiết.Quan đóng trên Mã tinh, chồng rất vẻ vang, vàng bạc đầy nhà.Tài và thân đều có lực, cả đời sống với chồng không lo.Quan, Thực, Lộc đều vượng, có một Ấn trợ, suốt đời được sủng ái.Không có Tài làm hại Ấn, có Thiên đức hay Nguyệt đức đóng ở ngày, được tài sản của cha mẹ, lấy được chồng sang, phùng hung hóa cát Chi ngày Tý Ngọ Mão Dậu, lấy tuổi Tý Ngọ Mão Dậu rất tốt.Vong thần, Kiếp sát, Dương Nhẫn, Thiên ất cùng sinh ở Lộc, Mã, người có nhan sắc hơn người lại rất trinh khiết.Thất Sát ở Trường sinh, tất lấy chồng quí.Tài Quan Ấn thụ, tất vượng phu.Thực Thần quá nhiều, không thấy phu tinh là người phụ nữ trinh khiết.Thiên đức Nguyệt đức gặp Ấn, vợ của quan to, được phong chức ở hai nước.Ấn vượng Quan nhẹ, chồng ở rể.Thương Quan thương tận, không có Quan mà có Tài, là mình làm lẽ lấy chồng già.Một Sát thanh thấu, gặp mộ, lấy chồng quí.Sát cường Quan nhược, ly hôn sau đó tái giá.Quan cường Thương nhược, giúp chồng gây dựng cơ nghiệp.Đào hoa ở ngày, vợ chồng đẹp người, phong lưu giỏi giang.Mạng tòng Sát, tất lấy được chồng sang.Đông kim tọa cục, vợ chồng ăn ở suốt đời.Nữ mạng Thương Quan nhiều tất tái giá.Thân suy Tài vượng, phá tài tổn vợ, hoặc vợ không theo chồng.Tỷ Kiên Kiếp Tài, phá tài tổn vợ.Tài gặp mộ khố, vợ có bệnh hoặc không giỏi.Thân vượng không Tài tinh, không có vợ hoặc tổn vợ.Thìn Tuất Sửu Mùi toàn, khắc phối ngẫu.Tài Quan đều rơi vào không vong, nửa cuộc đời mất con khắc vợ, phiêu bạt xứ người.Thê tinh thất lệnh, nửa đường gãy gánh.Mạng có hỏa hun đốt thổ, thân tất cô đơn.Cung thê hợp thành Sát cục khắc thân, có vợ khó giữ được vợ.Cung thê xung với cung tử tức, khắc vợ tổn con.Chi ngày đóng Dương Nhẫn hoặc Kiếp Tài, tính của vợ nóng nảy, cương liệt, quật cường.Nhật tọa Thực Thần lại gặp Kiêu, vợ gầy gò hay sinh bệnh.Nhật tọa Chính Quan bị Thực Thương khắc chế, vợ hay bệnh.Trụ có Giáp Ất Bính Đinh không bị gián đoạn, không lợi cho vợ.Ngày giờ Dương Nhẫn gặp Kiêu, nửa chừng thê nhi hao tổn.Nhật tọa Mộc dục, có vợ đẹp, nhưng nên tránh thị phi.Trụ có Thương Kiêu, con hèn vợ dở.Tài bị tuyệt Quan hưu tù, lấy vợ trễ có con muộn.Tài vượng Kiếp nhiều, phòng huynh đệ đoạt vợ.Nhật tọa Thất Sát, mà lại là kỵ thần, tính tình của vợ quá cứng cỏi, vợ chồng không tránh khỏi hay tranh chấp.Tài tinh gặp Tỷ Kiếp, mà không có cứu trợ, đề phòng vợ có họa bất ngờ.Ngày có Thất Sát Thiên Ấn, vợ hay sinh non.Tỷ Kiếp nguyệt kiến vượng, còn trẻ đã mất vợ.Gặp cả Suy lẫn Tử, đến già không vợ con.Trong trụ hai Mậu hợp một Quí, kết hôn hai lần.Tứ trụ thuần dương, nam tất cô.Tứ trụ thuần âm, nữ tất quả.Can chi của ngày tương chiến, hôn nhân không thuận.Chính Tài Thiên Tài nhiều, phong lưu háo sắc, vợ chồng không hòa thuận.Nam mạng Ấn nhiều khắc vợ.Tỷ Kiếp nhiều, lấy vợ muộn thì tốt.Thương Quan rõ, kén chọn rất kỹ, cho nên muộn kết hôn.Kiêu thần rõ, hôn nhân dễ vỡ.Kiêu Kiếp trùng trùng, muộn kết hôn.Tài Quan không thấy, muộn kết hôn.Thiên can hợp nhiều, duyên vợ đổi thay.Can ngày có hai Tài tinh đến hợp, đó là dấu hiệu hai vợ.Sát nhiều lại có Tài sinh Sát, vợ không giúp gì được.Quan nhiều dụng Ấn, Tài tinh đến phá, vợ không giúp gì được.Chính Tài bị Tỷ Kiên hoặc Kiếp Tài hợp, Tài lại tọa Mộc dục Đào hoa, vợ tư thông với người khác.Ngày âm thác dương sai, hôn nhân không thuận.Chính Tài Thiên Tài thấu can, dấu hiệu có hai vợ.Mạng của nữ:Nữ mạng Ấn nhiều, dâm loạn.Tài nhiều chú ý khắc chế bản thân.Nữ Quan tinh nhiều, tiện, hại chồng.Quan tuyệt, lại hưu tù, góa bụa.Nữ gặp Thương Quan nếu không lấy chồng xa, e khắc chồng.Kiêu Ấn trùng trùng, sinh ly tử biệt.Trụ không có Quan tinh, làm vợ lẽ.Trụ có Kiêu, Thực và Thương Quan, chồng con đều tổn.Ngày Quí có Mậu là Quan, còn trẻ đã lấy chồng già, trụ còn thấy Hợi Dậu, đóng cửa không lấy chồng là thượng sách.Nữ không có Tài Quan Ấn Thực, không nghèo khổ thì cũng làm nghề XX.Trong trụ Quan nhiều mà rõ, Tài ẩn mà vượng lại đới Sát, tất nhân tửu sắc tư tình mà có tiền.Hình không ở Quan Sát, tái giá mấy lần chưa thôi.Nhật Nhẫn gặp Sát, không là vợ lẽ cũng là ni.Tỷ Kiếp trùng trùng tất tranh chồng, mà chồng cũng quên nghĩa của vợ.Nữ Ấn nhiều, đến già không con.Thương Quan vượng, còn trẻ chồng đã mất.Ngày giờ tương hình, khắc chồng khắc con.Giáp Kỷ tương hợp, hôn nhân bất thuận.Ất Canh tương hợp, hôn nhân bất thuận.Ngày giờ Hoa cái ở Ấn, khó có chồng con.Không Tài không Ấn thấu Thương Quan, ăn hiếp chồng.Thực, Quan đều không thấy, phòng không chiếc bóng.Quan Sát quá vượng lại không có chế hóa, chồng không nghe vợ, chồng không ra gì.Quan Sát nhược lại tiết khí, Tài tinh lại yếu, chồng hèn, không giỏi.Thân vượng không Quan Sát, háo sắc, khắc chồng.Ngày Giáp Dần khắc chồng.Ngày Mậu Thân khắc chồng.Tài quá suy, khó giúp chồng.Thực Thần nhiều, không phải người trinh khiết.Đinh Nhâm hợp, tất dâm loạn.Tham Tài hoại Ấn, không phải người phụ nữ lương thiện.Đảo sáp Đào hoa, Mộc dục lõa hình, không phải thị tỳ cũng là ni (Năm có Đào hoa, nhật nguyệt thời tam hợp).Tài suy Ấn tuyệt, lấy chồng sớm.Tài vượng Quan hung, không ni thì XX.Kim Thần đới Giáp, khắc chồng.Thủy tụ nơi vượng địa, cô gái bán hoa.Thập ác đại bại, dâm ác phá gia.Đào hoa Kiếp sát, nhỏ đã vào cửa XX, đến già phải xin ăn.Nữ có Mão Dậu nhiều, sẩy thai, khắc con.Nữ mạng can giờ là Thương Quan, chi giờ tọa Đào hoa, hôn nhân không được tốt.Nữ mạng Đào hoa có hợp, bên ngoài ngay thẳng, bên trong đa tình.Ngày giờ gặp Khôi canh, khắc chồng.Thủy mạng thổ nhiều thường ở góa.Nhật tọa Thương Quan, thân lại vượng, khắc chồng, phải kiềm chế mới giữ được hôn nhân hòa thuận.Quan Sát nhiều, trong chi có ẩn Tài, mạng lại có Đào hoa, nên thận trọng chọn người kết giao, hay đứng núi này trông núi nọ.Mạng có Đào hoa, can hợp chi hình, tâm ý không kiên định, tửu sắc hoang dâm.Bất lợi hôn nhân còn có câu thơ:Xưa nay bạch Mã sợ thanh Ngưu, Dương Thử tương phùng hết cả yêu, Xà gặp mãnh hổ như dao chém, Chư ngộ Viên Hầu chẳng tới đâu, Long gặp bạch Thố theo mây chảy, Kim Kê thấy Khuyển lệ giao lưu.Lợi hôn nhân: Mệnh cục Tỷ Kiếp vượng, nên tìm đối tượng có Thực Thương vượng ; Mệnh cục Quan Sát vượng, nên tìm đối tượng có Ấn Kiêu vượng ; Mệnh cục Thực Thương vượng, nên tìm đối tượng có Tài vượng ; Mệnh cục Tài vượng, nên tìm đối tượng có Quan Sát vượng ; Mệnh cục Ấn Kiêu vượng, nên tìm đối tượng có Tỷ Kiếp vượng.Hết.

Trả lời bài viết

Quay về “Kiến thức tứ trụ”

Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: 20 khách.