Những câu đoán bát tự thường dùng-2

Các bài viết học thuật về môn tứ trụ (tử bình, bát tự)
Trả lời bài viết
anh033
Chính thức
Chính thức
Bài viết: 91
Tham gia: 10:23, 02/06/10

Những câu đoán bát tự thường dùng-2

Gửi bài gửi bởi anh033 » 08:24, 26/07/10

Anh chị emTỷ Kiếp nhiều, anh chị em cũng nhiều.Tỷ Kiếp đóng quí nhân, anh chị em phú quí.Tỷ Kiếp tọa Lộc và Tướng tinh là hỷ dụng, anh chị em phú quí.Thân vượng có Ấn, anh chị em nhiều.Nhật chủ nhược, trụ tháng Ấn vượng, nhiều anh chị em.Tỷ Kiếp tọa Thiên đức Nguyệt đức, anh chị em hiền lành trung hậu.Tỷ Kiếp được Trường sinh, anh chị em khỏe mạnh sống lâu.Nhật chủ nhược mà có Tỷ co Lộc, anh chị em khấm khá, đoàn kết.Thân vượng Tài nhẹ, anh chị em đông.Tháng có Quan tinh anh em tất quí hiển.Sát vượng Thực nhẹ, Ấn nhược gặp Tài, được Tỷ Kiên địch Sát, được sự giúp đỡ của anh chị em.Tháng có Thương Quan, anh em bị tổn bớt.Nhật chủ vượng mà Tỷ Kiếp nhiều, anh chị em suy mà không hòa thuận.Quan yếu Thương mạnh, Tỷ Kiếp sinh Thương, bị anh em liên lụy làm khổ.Tài nhược Tỷ Kiếp vượng, anh em trở mặt.Có Tỷ Kiếp Dương Nhẫn, anh em bất hòa, hay phạm khẩu thiệt.Dương Nhẫn gặp xung, anh em không lợi đi xa, hoặc anh em không hòa thuận hoặc nhiều bệnh.Tỷ Kiếp tọa Đào hoa, anh chị em phong lưu tài tử.Tỷ Kiếp trùng trùng không có chế phục, làm hại gia phong trong nhà, anh em không có tình cảm.Nhật chủ nhược, tứ trụ không có Tỷ Kiếp Ấn thụ, nếu lúc nhỏ vô vận Tỷ Kiếp là thưở nhỏ cô đơn khổ sở.Nhật chủ nhược, tứ trụ không có Ấn thụ, chỉ dựa vào Tỷ Kiếp giúp thân, là không được cha mẹ trợ giúp mà phải nương tựa anh chị em mới thành gia nghiệp.Tính cách, dáng ngườiTính cáchÂm thác dương sai, lạnh nhạt chuyện giao tế.Ấn tinh và Thiên đức đồng cung, thành thật, hiền lành.Thiên đức Nguyệt đức không bị phá, nam thì trung hiếu, nữ thì hiền lành.Tài Quan Ấn Thực, đức độ hiền lành.Ất Canh hợp, hòa hợp với mọi người.Giáp gặp Kỷ mà lại sinh vượng, có tấm lòng ngay thẳng.Giáp mộc sinh vào mùa xuân, tính tình ôn hòa hiền từ.Nữ mạng thân nhược, tính tình đơn giản mà dịu dàng.Bính gặp Tân kim ở đất Bắc, dù nghèo cũng có đức ( Tháng thủy vượng).Lục Giáp Không vong, gặp sinh vượng, khí độ to tát.Kim nhiều, uy vũ cương liệt.Mộc nhiều, có lòng trắc ẩn.Thủy nhiều, thông minh khéo léo.Tứ trụ bình hòa, không tranh giành, không đố kỵ.Hỏa vượng, nóng tính, hay hùng biện.Quan vượng Mã vượng, giao tiếp với người rộng rãi khảng khái.Năm tháng ngày giờ cùng trong một tuần, lạc quan không lo âu.Tài vượng thân nhược, người hiền lành ngay thẳng.Một Quan kỵ Mã, người thông minh phong nhã. Ngày kim Thương Quan thủy, thông minh hiển đạt.Can ngày tọa Quí, cả đời thanh cao.Thực Thần và Văn xương đồng cung, hùng biện lưu loát.Dần Thân Tỵ Hợi toàn, thần sắc thanh tú, dàng mạo đẹp, thích tranh đấu.Đinh hỏa Thương Quan, tính cao ngạo mà có mưu.Thiên Tài thanh cao, khảng khái ( Thiê Tài cách).Kim bạch thủy thanh, thông minh hiển đạt.Đinh Nhâm hóa mộc, tâm địa nhân từ, thông minh.Dương Nhẫn được ơn báo oán.Can ngày tọa Thất Sát, lanh lợi, thông minh, tính dữ.Thương Quan, đa tài đa nghệ, ngạo nghễ, người làm quan thấy thì sợ, tiểu nhân thấy thì ganh ghét.Nữ mạng thân cường vượng thì ăn hiếp chồng, bất hiếu bố mẹ chồng, nhiều thị phi, tính nóng.Thương Quan gặp Quan, quỉ kế đa đoan.Mã rơi vào Không vong, bôn ba vất vả.Trụ nhiều hình là người bất nghĩa.Nữ mạng ngày có Thương Quan, hay mắng chồng.Kiêu Ấn chỉ siêng lúc đầu, về sau làm biếng, thích học các nghề vặt, nhưng học nhiều mà thành tựu ít.Thiên Ấn Kiếp Nhẫn, tâm địa hung ác, vô tri, khắc bạc, không có lòng từ thiện.Thiên Tài Chính Tài lộ, không giữ tiền, thích các nghề vặt, thích được nịnh, hay nói chuyện thị phi, tham tửu sắc.Hoa cái gặp Không vong, khắc bạc.Nhật chủ nhược, thủy hỏa tương chiến, hay gặp thị phi.Mộ khố đóng ở ngày, lo âu nhiều, ít an vui.Chính Ấn đới Thực Thần, nói năng lắp bắp.Người mạng có Tỷ Kiếp nhiều hẹp lượng, tính kiêu căng, làm sai không chịu nhận. Thất sát chi ngày, vợ không hiền.Tài nhiều thân nhược, sợ vợ, hay nghe lời vợ.Thủy nhiều mộc ít thân lại nhược, phiêu bạt năm châu bốn biển.Thổ bị hỏa nóng hun đốt, giọng khàn nhưng giữ lễ nghi.Thương Quan không có Tài mà có Nhẫn, chuyên làm chuyện gian xảo.Mạng nam Tài nhiều Kiếp nhiều, vợ tham lam.Mạng nam Thương Quan Thất Sát Dương Nhẫn, bị người thân bạn bè làm tổn thương tình cảm.Mạng có Kiếp Tài làm bại Tài, không biết tự lượng sức.Đào hoa đới hợp, người phong lưu nho nhã.Thiên can thấu Ấn, thông minh.Hợp nhiều tình cảm nhiều, không có chí lớn.Dịch mã nhiều, người nay đây mai đó.Tý Mão tương hình, trong nhà không có lễ đức.Gặp nhiều lục hại, vong ơn phụ nghĩa.Dịch mã bị xung, bôn ba không nghỉ.Nữ mạng Đào hoa đới Sát, đa dâm tư bôn.Kiếp Tài, Dương Nhẫn đóng ở hai đầu là bên ngoài sáng láng bên trong rỗng không .Kiêu Thần mà kỵ là người bất nghĩa.Khôi canh gặp xung, không biết kiêng dè gì cả.Trụ không có Quan tinh, thích tự do, không thích bị quản chế.Nhâm thủy gặp Mậu thổ, tính nóng như hổ, hay tranh chấp háo đấu.Vong Thần gặp Tỷ Kiếp, khẩu phật tâm xà.Nữ gặp Tỷ Kiếp, chị em không hợp, hay tranh chấp, ghen ghét.Nữ mạng có Thực Thần, hướng nội, ít nói mà cao ngạo, không theo thời thế, không chịu phát huy.Vong thần đới Sát, gặp thêm Sát nữa là làm ăn cướp.Chính Quan là hỷ dụng thần, thông minh có kiến thức, hành sự có chừng mực, cẩn thận chu đáo, cần kiệm đơn giản.Chính Quan là kỵ thần, kiêu ngạo mà cố chấp, nhưng khi đụng việc thì lại do dự, hoặc thiếu sự tin tưởng, không tuân thủ nguyên tắc.Thiên Quan là hỷ dụng, có lòng nghĩa hiệp, sức tranh đấu dồi dào, phán đoán tốt, thích mạo hiểm, có chí khí, đã nói là làm, không giả dối hoặc khách sáo, dám đột phá hoàn cảnh khó khăn. Khi xã hội động loạn, giá trị của Thiên Quan sẽ được phát huy tốt nhất.Thiên Quan là kỵ thần, ham tửu sắc lại háo đấu, tính nóng nảy, dễ gây xung đột với người khác, làm việc thì quá cực đoan, dễ gây thù chuốc oán nên ít có bạn thân.Thân nhược Thiên Quan không được chế hóa, tính tự phụ, hay trả thù, nên cũng hay bị gậy ông đập lưng ông.Thân nhược, Thiên Quan nhiều, không có Ấn chuyển hóa, tính cứng cỏi, háo đấu, dễ vô đường tà đạo.Chính Ấn là hỷ dụng thần, người tính tình khoan hậu, tinh thần thoải mái, lương thiện, có tình người, xử thế khéo léo, chú trọng rèn luyện phẩm tính cao thượng và nội hàm của nhân cách., có lòng kính ngưỡng với tôn giáo và tuân thủ các nguyên tắc đạo đức.Chính Ấn là kỵ thần, thiếu tinh thần độc lập tự chủ, ỷ lại, hơi có tính ích kỷ, keo kiệt, tư tưởng ngây thơ, dễ tưởng là mọi sự việc sẽ tốt đẹp nên thường thất vọng vì không được như ý, tự ái cao.Thiên Ấn là hỷ dụng thần, có tài năng khai sáng cao, có năng lực lĩnh ngộ và sức cảm thụ một cách đặc biệt, tính cảnh giác cao, giỏi quan sát suy đoán, tâm tư rất tinh tế, xử sự rạch ròi.Thiên Ấn là kỵ thần, làm việc mau mắn rạch ròi nhưng không được bền lâu, đứng núi này trông núi nọ, thích đi đường tắt, thích học nhiều nhưng ít tinh thông, ít độ lượng, ích kỷ, tự đánh giá mình quá cao, không hòa nhập được vớ người khác. Nếu rút kinh nghiệm những khuyết điểm này sẽ phát huy được tài năng thiên phú của Thên Ấn, có khả năng còn lập được sự nghiệp lớn.Tỷ Kiên là hỷ dụng, bề ngoài bình thường nhưng bên trong phong phú, rất nỗ lực, giỏi so sánh và chọn lựa, giỏi sáng lập, ý chí kiên định không dễ thay đổi lập trường, chơi với bạn trọng tình nghĩa thực chất. Nói chung Tỷ Kiên tượng trưng cho ý chí kiên định, tự tôn, phân biệt phải trái, cố chấp, giữ vững lập trường, rất bền bỉ, thường hoàn thành tâm nguyện trong nghịch cảnh.Tỷ Kiên là kỵ thần, tính tình kỳ cục, không hòa đồng, đi đâu làm gì cũng một mình, làm việc thường lấy cái tôi lên trên, không chịu thỏa hiệp cho nên có lúc khó ăn ở hòa bình với người khác, có rất ít bạn tri kỷ, đối xử với người thân và người dưới tương đối hà khắc, bất cận nhân tình.Kiếp Tài là dụng thần, duyên bên ngoài rất tốt, nói năng giỏi, rất có cá tính, nhiệt tình thẳng thắn và hào sảng, tâm tư mẫn tiệp, giỏi lâm nguy ứng biến, nghĩa khí, có tài xã giao và hùng tâm mở mang sự nghiệp.Kiếp Tài là kỵ thần, hách dịch tự cao, không khiêm tốn, lỗ mãng, cố chấp không nhận thua, cá tính mâu thuẫn, người có đa nhân cách, tâm lý khó quân bình nên có lúc tự tin lạc quan có lúc nghi ngờ thất vọng, tính cách bồng bột, nhắm mắt làm bừa nên càng làm càng sai, về xử trí tình cảm thì khắt khe với người mình mà dễ dãi với người khác.Thực Thần là hỷ dụng thần, người thông minh điềm đạm, toát ra vẻ tinh anh tú khí, bản tính hiền hậu hiền hậu không hay tranh chấp với người khác, có phong thái của bậc đàn anh, độ lượng khoan hồng, có khí chất văn nhân, tư tưởng mới mẻ thoát tục, bản tính lạc quan, trọng sự hòa hợp giữa tinh thần và vật chất, tương đối cảm tính, có khuynh hướng yêu thích văn nghệ, học thuật, tôn giáo, nghệ thuật.Thực Thần là kỵ thần, không có khí phách khắc khổ cần cù, tính ỷ lại, thích nói đại ngôn, nói quá sự thực, có lúc lý tưởng và hiện thực không ăn khớp, dễ vì mệt nhọc mà làm biếng, bởi vì tư tưởng thanh cao nên vô hình trung có thói quen tự phụ cho mình là nhất. Thực Thần quá nhiều hay keo kiệt, mưu lợi cho mình mà không nghĩ cho người khác.Thương Quan là hỷ dụng thần, người mạng Thương Quan dáng vẻ rất thanh tú khả ái, lại đa tài đa nghệ, có tài ăn nói, thông minh tài cán, dám nghĩ dám làm, nội tâm tràn đầy sức sống và tinh thần phấn đấu, nên dễ có được thành công ở một mặt nào đấy, có vinh dự và uy tín.Thương Quan là kỵ thần, thường đánh giá cao bản thân mà hạ thấp người khác, hay làm theo ý mình, không chịu sự ràng buộc của nề nếp xã hội, ham thích nhiều thứ nhưng tạp, rộng mà không tinh, thích xía vô chuyện người khác mà chỉ làm sự việc rối thêm.Chính Tài là hỷ dụng, người thông minh thành thực, tiết kiệm không lãng phí, giữ gìn bổn phận, làm việc rất cẩn thận chu đáo, không làm chuyện vượt quá khả năng và quyền hạn, yêu quí giữ gìn tiền bạc, chú trọng sự đảm bảo của cuộc sống, rất giữ chữ tín.Chính Tài là kỵ thần, có khuynh hướng bủn xỉn keo kiệt, không đủ phách lực, cuộc sống khô khan nhàm chán, so đo tính toán từng li từng tí, quá nguyên tắc cứng nhắc, không biết quyền biến nên hay gặp phiền phức không đáng có.Thiên Tài là hỷ dụng, người tính khảng khái mà tình cảm, miệng lưỡi lanh lợi, có tài giao tế, có phách lực, thích hoạt động, cá tính hào sảng, phong lưu, giỏi quyết đoán, có cái nhìn sắc sảo với vật chất, có thủ đoạn kinh tế, có duyên với bên ngoài, mẫn tiệp khéo léo.Thiên Tài là kỵ thần, cầu an hưởng lạc, thích được xu nịnh, thích nói thị phi, nói quá lời, mê tửu sắc, láu cá, giả dối.Cách Dương Nhẫn mà thêm Ấn nhiều, thân vượng, tính cấp mà nóng nảy, ngoài mặt ôn hòa bên trong cố chấp, không tin người khác, chủ quan tính rất mạnh, không dễ tiếp thu ý kiến, tư tưởng dễ rơi vào cực đoan.Mạng có Đào hoa, thủy lại nhiều, rất có duyên với người khác phái, nếu không biết tu dưỡng bản thân, sau dễ gặp chuyện rắc rối.Nữ mạng có Khôi canh, tâm tính quá cứng cỏi, ảnh hưởng đến hôn nhân.Nam mạng có Khôi canh, hay có ngôn luận mang tính công kích, thích sạch sẽ, tâm tư linh xảo, nếu cách cục tốt sẽ giàu sang phú quí.Không vong, quí nhân, Hoa cái cùng xuất hiện, người này có đại trí tuệ, tính tình điềm tĩnh, phẩm đức cao, là người luôn truy cầu chân lý và trí tuệ, hay được người đời khâm phục.Mạng có Hoa cái, tính tình điềm tĩnh, cao khiết, tư chất thông minh, giỏi văn học nghệ thuật, có khuynh hướng triết học và tôn giáo, nhưng không giỏi giao tế nên cô độc.Dáng vẻ Thương Quan tiết tú, xinh tươi khả ái, hồng phấn giai nhân.Thực Thần tiết tú, sáng láng, xinh đẹp, hiền thê lương mẫu.Dụng thần có lực, xinh đẹp, anh tuấn.Tài là dụng thần, ngũ quan trên mặt ngay ngắn.Thực Thần là dụng thần, tâm thái ung dung, dáng mập, cao to.Thương Quan là dụng thần, thể cách khôi ngô, lông mày cao, mắt to, cốt cách phối hợp cân xứng.Chính Quan là dụng thần, tóc tốt, có dáng người tài.Kiếp Tài là dụng thần, cốt cách cân xứng.Giáp mộc không bị khắc, dáng dong dỏng cao.Mậu thổ có Ấn, thể cách khôi ngô.Kim thủy tương sinh, da trắng.Mộc sinh hỏa, tú lệ khả ái.Quí thủy sinh Ất mộc, xấu người, đa tài nghệ.Thương Quan sinh Tài, anh tuấn.Thực Thần sinh Tài, nhân duyên tốt.Ấn tinh nhập dụng, tai to mắt to, thông minh.Cách Kiêu Sát, cao lớn, mày rậm che mắt.Cách Kiêu Kiếp, nhỏ con, xinh xắn, được người thương nhưng dễ hồng nhan bạc mệnh.Chính Quan bội Ấn, ngũ quan đoan chính.Kim thủy Thương Quan, rất thông minh.Mộc hỏa Thương Quan, cá tính sáng sủa, có tài văn.Hỏa thổ Thương Quan, có tiết tháo, nhưng ngạo nghễ, đánh giá bản thân rất cao.Thủy mộc Thương Quan, đa tài đa nghệ.Thân cường, Thương Quan thương tận, tuấn tú phong lưu, giao tế giỏi.Bính hỏa gặp chế, mặt tươi như hoa.Mạng có lục hợp, tính tình hiền đức, dáng mạo thanh tú.Thân cường, Thương Quan thương tận, xinh đẹp, nhan sắc khuynh thành.Nữ mạng có Thương Quan, hay chọn lầm chồng, trọng sự hào nhoáng bên ngoài.Thương Quan thấu can, có đầu óc khoa học kỹ thuật, giỏi cả kinh doanh, có thể nhậm chức cao trong công ty.Thương Quan quá nhiều mà không có Tài tinh chế hóa, cả đời bôn ba vất vả, không được thanh nhàn, dù khéo léo cũng nghèo.Thương Quan quá nhiều mà không có Tài tinh chế hóa, phần nhiều thông minh kiêu ngạo, khinh thường pháp luật, tự thị bất phàm, ưa hư vinh, thích nói chuyện cao xa, không thích bị ước thúc quản chế, nếu là người trên thì hà khắc với người dưới, là người dưới thì bất tuân thượng lệnh.Chính Ấn đóng ở Đào hoa, thông minh đẹp đẽ, đa tài đa nghệ.Lưu niên vận trìnhThương Quan là dụng thần, đại vận lưu niên tối kỵ Thất Sát, cũng kỵ Quan tinh, nếu gặp sẽ bị phá duyên, kiện tụng, phá tài…Thân vượng mà tứ trụ thương tận Quan tinh, vô Tài vận sẽ phát phúc.Dụng Quan mà gặp Thương Quan, vô vận Tài Ấn thì tuyệt diệu.Thân Sát đều vượng, không chế phục, vô vận Sát vượng dù quí cũng không lâu.Thân Sát cân bằng, vô vận giúp thân thì tốt.Nhiều Kiếp mà gặp Kiếp vận, đã nghèo vợ lại có tai ương.Bỗng nhiên hiển đạt thành gia, nhất định là tam hình gặp quí (nhân).Trụ không Tỷ Kiếp lại không Ấn, lúc nhỏ vô vận Tỷ Kiếp là do anh chị họ hay bạn bè nuôi nên người.Mạng có Tài Quan, thân vượng gặp Quí, vô vận Tài Quan sẽ thăng quan phát tài.Trụ có Dương Nhẫn, tuế vận Dương Nhẫn tương phùng, tài vật hao tán.Nữ mạng gặp Tài Quan, vô vận Thương Quan Kiếp Tài khắc phu, qua vận đó sẽ lấy chồng.Nữ mạng trụ có Quan tinh, vô Thương Quan vận khắc phu.Nữ mạng nhiều Tỷ Kiếp, vô Quan vận khắc phu.Thực Thần gặp kiêu, can năm có Thương Quan, trụ giờ là Dương Nhẫn, lưu niên hoặc đại vận xung hợp Dương Nhẫn, sinh sản gặp tai.Trụ có tân là Quan tinh, có Sửu là phu khố, tuế vận đến Sửu, khắc phu rất nặng.Tài đóng ở trụ ngày, gặp Tài vận liền phát.Thương Quan Ấn Tỷ, trong trụ Tài tinh yếu, vô Tài vận phát Tài.Thực Thần gặp Kiêu, tài vật hao tán.Mạng có Quan vận gặp Lộc, thăng quan tiến chức.Quan tinh trong mạng bị lưu niên đại vận hợp đi, sẽ di dời công tác.Ấn vượng lại vô vận đế vượng, chắc chắn đỗ đại khoa.Nhật chủ vượng, Tài Quan nhược, vô vận Tài Quan danh lợi đều có.Kim thần vào vận hỏa, giàu sang nổi tiếng.Quan quí quá nhiều, vô vận vượng địa tất sụp đổ.Thi cử tối kỵ Thương Quan gặp Quan.Trụ có Tài Quan, gặp Tài vận danh lợi thành tựu.Thương Quan vận gặp Thương Quan, bệnh tật liên miên.Thân vượng Tài nhược, vô vận Tỷ Kiếp, bệnh tật phá tài.Trụ không có Quan tinh, Thương Sát nhiều, vô Quan vận, bị tật về mắt hoặc bị tai nạn.Trụ tháng có sát hoặc Thương Quan, vô vận Thương Quan phòng mắt có bệnh.Ngày Kỷ Mão gặp Sát vượng, vận lại gặp Sát, trung niên thất bại.Kiêu Nhẫn vận lại gặp Kiêu Nhẫn, đề phòng có họa.Quan nhiều thân nhược vận gặp Tài, phòng quan tai.Tam hình gặp quí, quan chức thăng liền liền.Thiên Tài nhập Tài khố, gặp tuế vận xung, phát tài vô số.Trụ tháng Kiến lộc, hễ gặp Tài Quan, tự nhiên phát phúc.Thân nhược Tài nhiều, gặp Tỷ Kiếp vận phát tài.Mạng có Quan tinh, gặp vận Sát, chú ý sức khỏe và công việc, người có quan chức đề phòng tiểu nhân hãm hại, người thân nhược có thể nhiều bệnh.Mạng có Sát, gặp vận Quan, chú ý sức khỏe và công việc, người có quan chức đề phòng tiểu nhân hãm hại, người thân nhược có thể nhiều bệnh.Lưu niên xung đại vận mã tinh, xuất ngoại nhiều hoặc chuyển nhà.Thân vượng, đại vận lưu niên gặp Tỷ Kiếp, khắc cha, khắc vợ, bất lợi hôn nhân.Thân nhược gặp Tài vận, vì tiền tài phải bôn ba vất vả.Đại vận, lưu niên và tứ trụ cấu thành tam hợp Quan cục, thân nhược, thì vận đó xui, nhiều thị phi.Đại vận, lưu niên và tứ trụ cấu thành tam hợp Tài cục, thân nhược, thì vận đó hao tổn tiền bạc.Đại vận dụng thần đáo vị, vận đó bình an, hưng vượng, phát đạt.Trong mạng hỷ Thực Thần, vô lưu niên đai vận Kiêu thần, vận đó không may mắn, phát sinh nhiều sự cố, có ảnh hưởng xấu đến công việc, sức khỏe, cuộc sống.Nhật chi và đại vận chi hợp thành kỵ thần, đề phòng hôn nhân tai biến.Nhật can là Giáp mộc, lưu niên và trụ ngày thiên khắc địa xung, tai nạn ở đầu.Lưu niên xung khắc Dương Nhẫn, năm đó bất thuận, nhiều hình khắc.Kỵ Kiêu, gặp vận Kiêu, lưu niên Thực Thần, đề phòng thất nghiệp hoặc trưởng bối bị tai bệnh.Đại vận gặp Đào hoa, có duyên với người khác phái.Trụ có Quan tinh, đại vận lưu niên gặp Thương Quan, năm đó nhiều thương bệnh.Thân vượng, can ngày và can lưu niên hợp Tài, tài vận năm đó rất khá.Đại vận và tứ trụ cấu thành tam hợp Tài cục, thân vượng, tài vận cực tốt.Lưu niên và trụ tháng thiên hợp địa hợp, năm đó trong nhà có chuyện mừng.Trụ có Khôi canh, lại gặp Khôi canh lưu niên, có việc tấn thăng.Tuổi già tuế vận gặp Mã tinh, chủ khí hư, bệnh ở eo ở chân.Trụ có Mã tinh, gặp vận Tài năm Tài, phát tài lớn.Đào hoa đới Dương Nhẫn, nếu vận hoặc lưu niên xung Đào hoa, đề phòng vì sắc mà bị tai nạn.Đại vận, lưu niên và mệnh cục tương hình, năm đó bất lợi, hay gặp hình thương hoặc kiện tụng thị phi.Can năm bị can lưu niên khắc, chi năm lại nhập mộ ở chi lưu niên, năm đó có khả năng cha mất.Trụ giờ xung khắc trụ năm, tuế vận xung khắc thêm nữa, năm đó tính mạng cha mẹ rất nguy kịch.

Trả lời bài viết

Quay về “Kiến thức tứ trụ”

Đang trực tuyến

Đang xem chuyên mục này: 10 khách.